CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG DẠY HỌC THEO GÓC MÔN KHOA HỌC LỚP 5 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH 1. Một số vấn đề năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh 1. Khái niệm năng lực Có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực. Năng lực, theo cách tiếp cận truyền thống (tiếp cận hành vi—behavioural approach), là sự kết hợp của các mảng kiến thức và kỹ năng cụ thể.
Theo Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường (2005), năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp tổng hợp nhiều yếu tố như tri thức kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động, trách nhiệm đạo đức và sự sẵn sàng hành động. Theo Đỗ Đức Thái (2019), Năng lực là một thuộc tính cá nhân được hình thành và phát triển thông qua các tố chất tự nhiên và quá trình học tập. Nó cho phép một người tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, v.thực hiện một nhiệm vụ cụ thể một cách thành công và đạt được kết quả mong muốn trong các điều kiện cụ thể. Những đặc điểm chính của năng lực là: - Năng lực là sự kết hợp giữa các yếu tố sẵn có và quá trình học tập của người học.
- Năng lực là kết quả của việc kết hợp các kỹ năng, kiến thức và các thuộc tính cá nhân khác, chẳng hạn như hứng thú, niềm tin, ý chí, v. - Sự thành công trong hoạt động thực tiễn thể hiện năng lực được hình thành và phát triển thông qua hoạt động. Trong đề tài này tác giả đồng tình với quan niệm: “Năng lực là một thuộc tính cá nhân được hình thành và phát triển thông qua các tố chất tự nhiên và quá trình học tập. Nó cho phép một người tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, v.thực 14 hiện một nhiệm vụ cụ thể một cách thành công và đạt được kết quả mong muốn trong các điều kiện cụ thể”.
Năng lực giải quyết vấn đề Giải phóng sức mạnh của tư duy sáng tạo và sự tháo vát luôn được công nhận là một bộ kỹ năng quan trọng cần được trau dồi ở người học, một mục tiêu giáo dục được nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, chia sẻ. Theo tiết lộ của Chương trình Đánh giá Học sinh Quốc tế - PISA (2012) do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) thực hiện, năng lực giải quyết vấn đề bao gồm năng lực của một cá nhân để hiểu và điều hướng thông qua các tình huống đầy thách thức mà các giải pháp rõ ràng khó nắm bắt. Theo cách nói của Jean-Paul Reeff, Anouk Zabal và Christine Blech (2006), việc giải quyết vấn đề vượt qua lĩnh vực của các phương pháp, quy trình và biện pháp khắc phục thông thường, đòi hỏi khả năng suy nghĩ và hành động khi đối mặt với địa hình xa lạ. Người giải quyết vấn đề có thể có vẻ bề ngoài của một mục tiêu nhưng lại thiếu kiến thức tức thì về con đường đạt được mục tiêu đó.
Nắm bắt được những điểm phức tạp của vấn đề hiện tại và dần dần làm sáng tỏ các phương tiện để đạt được kết quả mong muốn thông qua việc lập kế hoạch tỉ mỉ và lập luận logic tạo thành nền tảng của hành trình giải quyết vấn đề. Ý tưởng của Nguyễn Lộc và Nguyễn Thị Lan Phương (2016) Năng lực GQVĐ là khả năng của một người sử dụng các quá trình nhận thức, hành động, thái độ, động cơ và xúc cảm để giải quyết các tình huống vấn đề mà không có sẵn các quy trình, thủ tục hoặc giải pháp thông thường. Năng lực của một cá nhân trong việc giải quyết vấn đề trở nên rõ ràng thông qua sự tham gia của họ trong việc giải quyết các tình huống vấn đề khác nhau. Để điều hướng hiệu quả những tình huống như vậy, người ta phải có tư duy tích cực, cùng với kiến thức và kỹ năng cần thiết.
Một tình huống có vấn đề đại diện cho một thách thức mà cá nhân có thể hiểu rõ hoặc mơ hồ, nhưng để vượt qua nó, họ phải tìm kiếm kiến thức mới và cách tiếp cận sáng 15 tạo. Tình huống này phản ánh cách tiếp cận của cá nhân đối với những trở ngại gặp phải trong nỗ lực tinh thần hoặc thực tế của họ, thừa nhận rằng họ thiếu các giải pháp tức thời và nhu cầu khám phá các cách để vượt qua chúng. Để thúc đẩy các kỹ năng giải quyết vấn đề ở học sinh, điều quan trọng là phải thiết kế nội dung hấp dẫn và lôi cuốn lôi kéo sự tham gia tích cực của họ vào việc tìm kiếm giải pháp. Cách tiếp cận này tạo điều kiện phát triển khả năng tư duy phản biện trong phân tích vấn đề và khuyến khích tư duy sáng tạo trong việc đề xuất các quy trình và giải pháp phù hợp.
Xét đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học trên, có thể nhận thấy rằng trí nhớ hình ảnh của các em vẫn đang trong giai đoạn hình thành và có ảnh hưởng. Do đó, nếu các chiến lược được sử dụng năng động, hấp dẫn và kích thích sự tham gia của học sinh vào việc giải quyết vấn đề, thì nó sẽ khơi gợi sự quan tâm của họ đối với chủ đề, tăng cường sự tập trung của họ trong các bài học và nâng cao khả năng tìm tòi và khám phá của họ. Như vậy có thể hiểu, “Năng lực GQVĐ là khả năng của một người sử dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm của mình để giải quyết tình huống khó khăn. Biểu hiện và yêu cần đạt về NLGQVĐ của HS tiểu học Bộ GD-ĐT đã đưa ra các biểu hiện và yêu cầu về NLGQVĐ của HS ở từng cấp học vào năm 2018 [1], dựa trên thực tiễn dạy học cho học sinh tiểu học.
Cấu trúc NLGQVĐ bao gồm các biểu hiện và yêu cầu như trong bảng dưới đây.1: Biểu hiện và yêu cầu cần đạt về NLGQVĐ của HS tiểu học Biểu hiện Yêu cầu cần đạt Nhận ra ý tưởng Biết xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới đối với bản mới thân từ các nguồn tài liệu cho sẵn theo hướng dẫn. Phát hiện và làm Biết thu nhận thông tin từ tình huống, nhận ra những vấn rõ vấn đề đề đơn giản và đặt được câu hỏi. Hình thành và Dựa trên hiểu biết đã có, biết hình thành ý tưởng mới đối triển khai ý tưởng với bản thân và dự đoán được kết quả khi thực hiện. mới Đề xuất, lựa chọn Nêu được cách thức giải quyết vấn đề đơn giản theo giải pháp hướng dẫn.
- Xác định được nội dung chính và cách thức hoạt động Thiết kế và tổ để đạt mục tiêu đặt ra theo hướng dẫn. chức hoạt động - Nhận xét được ý nghĩa của các hoạt động. Nêu được thắc mắc về sự vật, hiện tượng xung quanh; không e ngại nêu ý kiến cá nhân trước các thông tin khác Tư duy độc lập nhau về sự vật, hiện tượng; sẵn sàng thay đổi khi nhận ra sai sót. Nguồn: Chương trình GDPT 2018 1.
Một số vấn đề về dạy học môn Khoa học lớp 5 1. Đặc điểm của môn Khoa học Theo CTGDPT 2018, chương trình môn Khoa học tiểu học có tính tích hợp: Chương trình môn Khoa học lớp 5 tích hợp nhiều lĩnh vực học vấn từ khoa học vật lý, hoá học, sinh học, dân số và môi trường. Một số mạch nội dung được kế thừa và phát triển từ các chủ đề Nội dung giáo dục Khoa học gần gũi, phù hợp với sự hiểu biết của học sinh và được chia thành các chủ đề: "Con người và sức khỏe", "Vật chất và năng lượng", "Thực vật và động vật" 17 và "Môi trường và tài nguyên thiên nhiên". Nội dung học khoa học tuân thủ logic chặt chẽ và thể hiện mối liên hệ chặt chẽ với các khía cạnh thực tế của cuộc sống.
Mặc dù có sự tích hợp của nhiều chủ đề khác nhau, nhưng việc tổ chức nội dung này vẫn mạch lạc và nhất quán về mặt logic, vì nó bắt nguồn từ tính chất hệ thống của chủ đề. Những chủ đề này vượt ra ngoài các khái niệm học thuật đơn thuần và đan xen với các hiện tượng, quá trình và sự kiện thực tế sống động. Bằng cách thiết lập mối liên hệ giữa các sự kiện và nguyên tắc khoa học đa dạng thông qua các chủ đề tích hợp, cả học sinh và giáo viên đều thu được nhiều lợi ích. Việc tích hợp các chủ đề Khoa học mang đến cho học sinh nhiều cơ hội để khám phá và giải quyết các vấn đề.
Một liên hệ hoặc khám phá đơn lẻ dẫn đến sự tiết lộ về các hiện tượng liên kết với nhau khác. Khi một sự kiện được xác định, nó sẽ mở ra khả năng ngay lập tức để phát hiện các sự kiện tiếp theo. Hai đặc điểm này cho thấy rõ ràng rằng việc nghiên cứu Khoa học không có lợi cho các phương pháp giảng dạy đơn giản tập trung vào việc học thuộc lòng và đọc và viết thụ động. Thay vào đó, việc học Khoa học hiệu quả sẽ phát triển mạnh khi các phương pháp giảng dạy tích cực được sử dụng, thu hút học sinh vào các trải nghiệm thực tế và khuyến khích các em tham gia tích cực vào quá trình học tập.
Mục tiêu, nội dung môn Khoa học lớp 5 Mục tiêu Học sinh yêu con người và thiên nhiên, ham hiểu biết khoa học, ham thích tìm hiểu thế giới tự nhiên, ý thức bảo vệ sức khỏe thể chất và tinh thần của bản thân cũng như sức khỏe của gia đình và cộng đồng, ý thức tiết kiệm và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, trách nhiệm với môi trường đều do các môn khoa học định hình và phát triển. Môn học còn giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức thế giới tự nhiên, tìm tòi khám phá thế giới tự nhiên, vận dụng kiến thức khoa học để 18 giải thích các hiện tượng và mối quan hệ tự nhiên, giải quyết các vấn đề hàng ngày, hành động phù hợp để bảo vệ sức khỏe của mình và của người khác, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên.