Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2: Biện pháp dạy học giải toán có lời văn theo hướng phát triển năng lực GQVĐ & ST cho HS lớp 3 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề về năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 1. Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo * Năng lực Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm “năng lực”, dưới đây là một số quan niệm cụ thể: Theo Howard Gardner (1999): “Năng lực được thể hiện qua các hoạt động mang lại kết quả đo đạc và có thể đánh giá” [31, tr.
Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2014) cho rằng: “Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong các tình huống thay đổi, thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sẵn sàng hành động” [2, tr. Trong Từ điển tiếng Việt, năng lực được hiểu là phẩm chất tâm sinh lý và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loạt hoạt động nào đó với chất lượng cao [22, tr. Theo quan điểm của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018, “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và thuộc tính cá nhân khác nhau như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loạt hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [3, tr. Như vậy, mặc dù các nhà khoa học đã đưa ra nhiều khái niệm, cách hiểu về năng lực, nhưng tất cả các quan điểm đều có điểm chung, thống nhất về năng lực đó là: sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức, các nguồn lực kiến thức, kỹ năng, thái độ huy động để đảm bảo hoạt động có hiệu quả trong bối cảnh tình huống nhất định.
11 * Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Để hiểu khái niệm năng lực GQVĐ & ST, chúng ta làm rõ những khái niệm có liên quan như sau: - Vấn đề: Khi đề cập đến vấn đề trong dạy học toán ở tiểu học, Vũ Quốc Chung (2007) cho rằng: “Vấn đề là một câu hỏi mà HS cần trả lời, hoặc một nhiệm vụ mà HS phải thực hiện, nhưng HS không thể dễ dàng trả lời ngay câu hỏi hoặc thực hiện được ngay nhiệm vụ mà phải suy nghĩ, vượt khó khăn để huy động, tìm kiếm kiến thức, tìm kiếm phương pháp mới giải quyết được” [4, tr. Như vậy, vấn đề được hiểu là câu hỏi (hoặc nhiệm vụ) mà học phải thực hiện trong quá trình học tập. Nhưng câu hỏi (nhiệm vụ) đó đòi hỏi HS phải suy nghĩ, tìm tòi và có phương pháp mới có thể giải quyết được. - Tình huống có vấn đề: Theo Vũ Quốc Chung (2007), “Tình huống có vấn đề là tình huống được đặt ra trong đó khi HS hoạt động tác động tương tác với các đối tượng trong môi trường học tập sẽ phát hiện ra vấn đề cần giải quyết” [4, tr.
- Giải quyết vấn đề: Khi đề cập đến giải quyết vấn đề trong dạy học, Vũ Quốc Chung (2007) đặt vào hoạt động dạy học và cho rằng: Dạy học giải quyết vấn đề là tổ chức tạo ra tình huống có chứa đựng vấn đề (toán học). Trong quá trình hoạt động, HS sẽ phát hiện ra vấn đề, có nguyện vọng giải quyết vấn đề và giải quyết được vấn đề đó bằng sự cố gắng trí lực, nhờ đó nâng cao một bước trình độ kiến thức, kĩ năng và tư duy” [4, tr. Như vậy, GQVĐ được hiểu là một quá trình diễn ra theo một quy trình với các thao tác và các kỹ năng. Trong đó, khi GQVĐ cá nhân sử dụng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm để giải quyết các tình huống.
- Năng lực GQVĐ: Có nhiều khái niệm về năng lực GQVĐ được đưa ra, chẳng hạn như: Theo PISA – Chương trình đánh giá HS quốc tế năm 2012: GQVĐ là năng lực của một cá nhân tham gia vào quá trình nhận thức để hiểu và giải quyết các tình huống có vấn đề mà phương pháp của giải pháp đó không phải 12 ngay lập tức nhìn thấy rõ ràng [32]. Các tác giả Nguyễn Lộc, Nguyễn Thị Lan Phương và cộng sự (2016) cho rằng: “Năng lực GQVĐ là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, cảm xúc để giải quyết những thhh huống vấn đề mà ở trong đó có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường” [18, tr. Đề tài sử dụng khái niệm năng lực GQVĐ của các tác giả Nguyễn Lộc, Nguyễn Thị Lan Phương và cộng sự để biện giải cho những khái niệm và nội dung tiếp theo. - Sáng tạo: Hiện nay, đang có nhiều quan điểm khác nhau về sáng tạo như: Tác giả L.Vưgốtxki cho rằng: sáng tạo là hoạt động tạo ra cái mới không phân biệt kết quả tạo ra nó có ý nghĩa hiện thực cụ thể hay ý nghĩa về mặt tư duy – tình cảm [dẫn theo 2, tr.
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Sáng tạo là hoạt động tạo ra giá trị mới về vật chất, tinh thần hoặc tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có” [22, tr. Tác giả Phan Dũng (2020) thì đưa ra quan điểm: “Sáng tạo là hoạt động tạo ra bất kỳ cái gì có đồng thời tính mới và tính lợi ích” [6, tr. Tác giả Lê Huy Hoàng (2002) lại khẳng định: “Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người, trên cơ sở nhận thức được các quy luật của thế giới khách quan, tạo nên những giá trị tinh thần và vật chất mới về chất, đáp ứng các nhu cầu của xã hội” [12, tr. Tác giả Phạm Thành Nghị (2012) thì cho rằng: “Sáng tạo là tiến trình tới cái mới, là năng lực tạo ra cái mới, sáng tạo được đánh giá trên cơ sở sản phẩm mới, độc đáo và có giá trị” [21, tr.
Ta thấ y có rấ t nhiề u quan điể m về sáng tạo nhưng có mô ̣t ý chung mà chúng ta không thể phủ nhâ ̣n về sáng tạo là hoạt động tạo ra cái mới và có giá trị. Dựa trên quan điể m của một số tác giả thì sáng tạo có mối liên hệ mật 13 thiết với GQVĐ. Chính vì thế mà khi đề cập đến năng lực GQVĐ người ta luôn gắn với sự sáng tạo. - Năng lực GQVĐ & ST: Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về năng lực GQVĐ & ST, trong đó các tác giả đã đưa ra quan niệm về năng lực GQVĐ & ST như sau: Tác giả Trần Thị Huế và tác giả Nguyễn Đức Dũng (2018) cho rằng: Năng lực GQVĐ & ST của HS là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, cảm xúc để phân tích và đề xuất các biện pháp, đồng thời lựa chọn các giải pháp và thực hiện giải quyết những tình huống, những vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống mà ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường; đồng thời đánh giá giải pháp GQVĐ để điều chỉnh và vận dụng linh hoạt trong hoàn cảnh, nhiệm vụ mới [13, tr.
Quan niệm về năng lực GQVĐ & ST đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra trong Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 một cách chính thức, trong đó: Năng lực GQVĐ & ST trong học tập là khả năng GQVĐ đề tìm ra những cái mới ở mức độ nào đó của mỗi cá thể. Để có năng lực GQVĐ & ST, chủ thể phải ở trong tình huống có vấn đề, tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhận thức hoặc hành động và kết quả là đề ra được cách giải quyết có sáng tạo, mang tính mới và thuyết phục. Theo đó, năng lực GQVĐ & ST trong dạy học được xác định cụ thể là khả năng: nhận ra ý tưởng mới; Đề xuất, lựa chọn giải pháp; thiết kế và tổ chức hoạt động; Tư duy độc lập [3, tr. Dựa trên quan điểm đã được đề cập ở trên, chúng tôi nhận thấy rằng: Năng lực GQVĐ & ST của học sinh là khả năng vận dụng hiệu quả kiến thức, kỹ năng và các đặc điểm cá nhân để giải quyết các nhiệm vụ học tập, trong đó yếu tố sáng tạo được thể hiện ở việc lựa chọn, đề xuất các giải pháp để GQVĐ mà ở đó không sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường.
Khi tham gia các hoạt động GQVĐ trong quá trình học tập và trong cuộc sống hàng ngày thì năng lực GQVĐ & ST của HS sẽ được phát triển. Cấu trúc và các mức độ biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Theo nghiên cứu của tác giả Lê Văn Dần (2018) năng lực GQVĐ & ST là sự kết hợp của các năng lực sau: - Năng lực nhận thức đóng vai trò quan trọng trong việc giúp người học không chỉ hiểu rõ các khái niệm và qui luật tự nhiên, mà còn nhận thức được các mối quan hệ và kỹ năng liên quan đến môn học. - Năng lực tìm hiểu và khám phá vấn đề giúp người học nhiǹ nhận và hiểu rõ vấn đề. Nó thể hiê ̣n ở việc phát hiện các tình huống có vấn đề, phân tích và làm rõ các tình huống cụ thể, chia sẻ cho người khác để cùng nhau hiểu rõ vấ n đề.
- Năng lực hình thành và triển khai ý tưởng mới giúp HS có cái nhìn tổ ng quát và cụ thể. Các em biế t thu thập thông tin, phân tích, xử lí, đánh giá và trình bày thông tin một cách khoa học [5, tr. Trong Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể đã chỉ rõ năng lực GQVĐ & ST thể hiện ở cấp tiểu học cần đạt được những yêu cầu sau: [3, tr.1: Cấu trúc và yêu cầu cần đạt của năng lực GQVĐ & ST ở HS cấp tiểu học Thành phần của năng lực Yêu cầu cần đạt GQVĐ & ST Nhận ra ý tưởng mới Thông qua nguồ n ho ̣c liê ̣u HS có thể làm rõ thông tin, ý tưởng mới cho bản thân. HS biết thu nhận thông tin từ các tình huống.
Phát hiện và làm rõ vấn đề Bên ca ̣nh đó, các em nhận ra đươ ̣c những vấn đề đơn giản và đặt được câu hỏi.