Luận văn Thạc sĩ Giáo dục: dạy học chủ đề xác suất thống kê nhằm rèn luyện

Luận văn thạc sĩ về phương pháp dạy học xác suất thống kê giúp học sinh THPT vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn cuộc sống hàng ngày.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

128
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn dạy học xác suất thống kê rèn năng lực

Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hà Phương tại Đại học Thái Nguyên tập trung vào việc đổi mới phương pháp Dạy học xác suất thống kê. Mục tiêu chính là rèn luyện Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế cho học sinh. Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, Xác suất thống kê không còn là những con số khô khan. Nó là công cụ mạnh mẽ để giải quyết các vấn đề trong Thực tiễn cuộc sống. Luận văn nhấn mạnh việc chuyển dịch từ lối dạy học áp đặt sang hướng Phát triển năng lực học sinh. Điều này giúp các em làm chủ kiến thức và sẵn sàng cho các thách thức nghề nghiệp tương lai. Việc tích hợp các Tình huống thực tế trong toán học vào giảng dạy giúp nâng cao hứng thú học tập. Học sinh sẽ hiểu rõ bản chất của các hiện tượng ngẫu nhiên và dữ liệu thống kê xung quanh mình.

1.1. Mục tiêu phát triển năng lực vận dụng kiến thức toán học

Mục tiêu trọng tâm là đề xuất các biện pháp Sư phạm toán học nhằm nâng cao khả năng giải quyết vấn đề. Học sinh cần biết cách chuyển đổi một tình huống đời thực sang mô hình toán học cụ thể. Năng lực vận dụng kiến thức giúp học sinh không chỉ giải toán trên giấy mà còn biết ứng dụng vào tính toán rủi ro hoặc phân tích dữ liệu. Luận văn xác định rõ các thành tố cấu thành năng lực này, từ việc thu nhận thông tin đến việc đưa ra quyết định dựa trên kết quả toán học.

1.2. Vai trò của xác suất thống kê trong thực tiễn cuộc sống

Xác suất thống kê gắn liền với mọi lĩnh vực như kinh tế, y sinh và kỹ thuật. Tài liệu nghiên cứu khẳng định đây là chìa khóa để hiểu thế giới hiện đại. Việc nắm vững Thống kê mô tả giúp học sinh biết cách đọc hiểu biểu đồ, nhận diện xu hướng và xử lý thông tin khách quan. Trong Thực tiễn cuộc sống, các quyết định quan trọng thường dựa trên phân tích xác suất, từ việc dự báo thời tiết đến đánh giá hiệu quả kinh doanh.

II. Thách thức khi dạy học xác suất thống kê tại trường THPT

Thực tế dạy học Toán học THPT hiện nay vẫn tồn tại nhiều hạn chế đáng kể. Giáo viên thường tập trung quá mức vào lý thuyết hàn lâm và các mẹo giải toán để đi thi. Điều này khiến nội dung Xác suất thống kê trở nên trừu tượng và khó tiếp thu. Học sinh thường xuyên gặp khó khăn khi đối mặt với các Tình huống thực tế trong toán học. Các em có thể tính toán giỏi nhưng lại lúng túng khi phải giải thích ý nghĩa của con số đó trong đời sống. Sự thiếu hụt các bài toán có nội dung thực tiễn trong sách giáo khoa cũ là một rào cản lớn. Ngoài ra, áp lực từ các kỳ thi quốc gia khiến cả người dạy và người học ít quan tâm đến việc Ứng dụng toán học vào đời sống.

2.1. Thực trạng dạy học toán học THPT nặng tính hàn lâm

Hiện nay, việc dạy học chủ yếu dựa trên truyền thụ nội dung một chiều. Cách tiếp cận này khiến kiến thức trở nên tách rời khỏi Thực tiễn cuộc sống. Học sinh học thuộc lòng các công thức Tổ hợp xác suất nhưng không biết chúng được dùng để làm gì ngoài việc vượt qua kỳ thi. Tính hệ thống và sự trừu tượng hóa quá cao làm giảm đi sự sinh động của môn Toán, gây ra tâm lý chán nản cho nhiều đối tượng học sinh trung bình và khá.

2.2. Khó khăn trong việc tích hợp tình huống thực tế trong toán học

Xây dựng các bài toán thực tế đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian và công sức. Việc tìm kiếm số liệu thực tế chính xác và phù hợp với chương trình là một thách thức. Nhiều giáo viên chưa có thói quen khai thác mối liên hệ giữa toán học và đời sống. Bên cạnh đó, học sinh cũng thiếu các kỹ năng nền tảng để toán học hóa các vấn đề phức tạp từ thực tế, dẫn đến tình trạng sợ các bài toán có lời văn dài và bối cảnh lạ.

III. Phương pháp dạy học xác suất thống kê theo hướng thực tiễn

Để khắc phục các hạn chế, luận văn đề xuất thay đổi Phương pháp dạy học toán theo hướng tích cực. Việc xây dựng Giáo án xác suất thống kê 10 11 12 cần tập trung vào các hoạt động trải nghiệm. Giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, gợi mở để học sinh tự khám phá tri thức. Các bài tập về Tổ hợp xác suất cần được lồng ghép vào những kịch bản đời thường như chọn mẫu kiểm tra chất lượng sản phẩm hay dự đoán kết quả thể thao. Sử dụng các công cụ hỗ trợ như phần mềm thống kê hoặc máy tính cầm tay giúp giảm bớt gánh nặng tính toán thủ công. Từ đó, học sinh có thêm thời gian để tập trung vào việc phân tích và giải thích ý nghĩa của các tham số thống kê thu được.

3.1. Xây dựng giáo án xác suất thống kê 10 11 12 sáng tạo

Hệ thống Giáo án xác suất thống kê 10 11 12 mới cần được thiết kế dựa trên các chủ đề tích hợp. Thay vì dạy các khái niệm riêng lẻ, giáo viên nên tổ chức dạy học theo dự án. Ví dụ, học sinh có thể thực hiện khảo sát về thói quen sử dụng mạng xã hội của bạn bè. Qua đó, các em tự học cách lập bảng Thống kê mô tả, vẽ biểu đồ và tính toán các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn một cách tự nhiên và hứng thú.

3.2. Thiết kế hệ thống bài tập tổ hợp xác suất gắn với đời sống

Bài tập Tổ hợp xác suất không nên chỉ dừng lại ở các viên bi hay quân bài. Giáo viên cần đưa vào những tình huống như tính xác suất mắc bệnh dựa trên các chỉ số y tế hoặc xác suất rủi ro khi tham gia giao thông. Việc đa dạng hóa ngân hàng bài tập giúp học sinh nhận thấy toán học luôn hiện hữu xung quanh. Điều này không chỉ củng cố kiến thức mà còn rèn luyện tư duy phản biện và khả năng ra quyết định dựa trên dữ liệu.

IV. Bí quyết rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh

Rèn luyện Năng lực vận dụng kiến thức yêu cầu một lộ trình sư phạm bài bản và kiên trì. Bí quyết nằm ở việc huấn luyện học sinh quy trình 4 bước: Xây dựng bài toán thực tế, Toán học hóa tình huống, Giải quyết mô hình và Chuyển đổi kết quả về thực tiễn. Giáo viên cần khuyến khích học sinh tự đặt câu hỏi và tự thiết kế các bài toán từ chính cuộc sống của các em. Sự tương tác giữa Lý luận dạy học môn Toán và thực hành giúp học sinh ghi nhớ sâu sắc hơn. Các hoạt động ngoại khóa như tham quan các trung tâm thống kê hoặc tham gia các cuộc thi ứng dụng toán học là môi trường lý tưởng để phát triển năng lực toàn diện. Khi học sinh thấy được giá trị thực sự của kiến thức, động lực học tập sẽ tự động được kích hoạt.

4.1. Quy trình toán học hóa các tình huống thực tiễn cuộc sống

Toán học hóa là bước khó nhất nhưng cũng quan trọng nhất. Học sinh cần học cách lược bỏ những chi tiết thừa trong thực tế để giữ lại các biến số toán học cốt lõi. Quá trình này rèn luyện khả năng tư duy trừu tượng và phân tích hệ thống. Giáo viên nên hướng dẫn học sinh cách đặt giả thuyết, thiết lập các mối quan hệ giữa các đại lượng và lựa chọn công cụ Xác suất thống kê phù hợp để xử lý mô hình đã thiết lập.

4.2. Tổ chức hoạt động ngoại khóa và sư phạm toán học thực hành

Các hoạt động thực hành ngoài lớp học giúp xóa tan rào cản giữa sách vở và cuộc đời. Tổ chức các buổi ngoại khóa về chủ đề Ứng dụng toán học vào đời sống tạo cơ hội cho học sinh làm việc nhóm và giao tiếp toán học. Học sinh có thể đóng vai các nhà điều tra dân số hoặc chuyên gia phân tích thị trường. Những trải nghiệm thực tế này giúp hình thành thái độ tích cực đối với môn Toán và rèn luyện các kỹ năng mềm cần thiết cho tương lai.

V. Kiểm tra đánh giá năng lực vận dụng toán học vào đời sống

Việc Kiểm tra đánh giá năng lực cần có sự thay đổi căn bản để phản ánh đúng sự tiến bộ của học sinh. Thay vì chỉ sử dụng các bài kiểm tra trắc nghiệm tính toán nhanh, giáo viên nên kết hợp các hình thức đánh giá đa dạng. Các dự án học tập, báo cáo thực hành và bài luận giải quyết tình huống là những công cụ đánh giá hiệu quả. Tiêu chí đánh giá không chỉ dựa trên kết quả đúng sai mà còn xem xét quá trình học sinh lập luận và vận dụng Xác suất thống kê vào thực tế. Kết quả thực nghiệm sư phạm trong luận văn cho thấy, những học sinh được dạy theo phương pháp này có khả năng giải quyết vấn đề tốt hơn rõ rệt. Các em tự tin hơn khi đối mặt với các dữ liệu phức tạp và có khả năng đưa ra những nhận xét thống kê sắc bén.

5.1. Tiêu chí đánh giá sự phát triển năng lực học sinh qua thống kê

Hệ thống tiêu chí cần tập trung vào khả năng phát hiện vấn đề và đề xuất giải pháp toán học. Học sinh đạt yêu cầu phải biết cách sử dụng các số đặc trưng của mẫu số liệu để so sánh và đánh giá các hiện tượng thực tế. Khả năng đọc hiểu và phê phán các thông tin thống kê trên báo chí, truyền thông cũng là một tiêu chí quan trọng. Đánh giá phải hướng tới việc thúc đẩy sự sáng tạo và khả năng tự học của học sinh trong môn Toán học THPT.

5.2. Kết quả thực nghiệm sư phạm và ứng dụng toán học vào đời sống

Qua thực nghiệm tại các trường THPT ở Thái Nguyên, nhóm học sinh được áp dụng các biện pháp mới cho kết quả học tập vượt trội. Tỷ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi trong phần Xác suất thống kê tăng cao. Quan trọng hơn, thái độ học tập của các em có sự chuyển biến tích cực. Học sinh không còn coi Toán học là môn học khô khan mà thấy được sự hữu ích của Ứng dụng toán học vào đời sống hàng ngày, từ đó nâng cao ý thức học tập tự giác.

VI. Định hướng dạy học toán theo chương trình phổ thông 2018

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đặt ra yêu cầu cao về việc phát triển phẩm chất và năng lực người học. Mạch kiến thức Xác suất thống kê được chú trọng xuyên suốt từ cấp tiểu học đến THPT. Đây là cơ hội vàng để giáo viên đổi mới tư duy và phương pháp giảng dạy. Định hướng tương lai là xây dựng môi trường học tập mở, nơi học sinh được tiếp xúc tối đa với công nghệ và dữ liệu thực. Việc bồi dưỡng Năng lực vận dụng kiến thức không chỉ là nhiệm vụ của một môn học mà là mục tiêu chung của toàn bộ hệ thống giáo dục. Luận văn của Lê Thị Hà Phương đã đóng góp một nền tảng lý luận và thực tiễn vững chắc cho lộ trình đổi mới này. Giáo dục Toán học trong kỷ nguyên số cần lấy người học làm trung tâm và thực tiễn làm thước đo giá trị.

6.1. Định hướng lý luận dạy học môn Toán trong kỷ nguyên mới

Lý luận dạy học môn Toán cần chuyển mình để thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Việc dạy học phải hướng tới việc hình thành tư duy dữ liệu và khả năng thích ứng linh hoạt. Giáo viên cần được đào tạo lại để sử dụng thành thạo các công nghệ số trong giảng dạy Xác suất thống kê. Sự kết hợp giữa lý thuyết hiện đại và thực hành thực tế sẽ giúp học sinh Việt Nam hội nhập tốt hơn với trình độ giáo dục quốc tế.

6.2. Tầm quan trọng của việc thống kê mô tả trong định hướng nghề nghiệp

Kỹ năng phân tích dữ liệu và Thống kê mô tả đang trở thành yêu cầu bắt buộc trong hầu hết các ngành nghề tương lai. Từ kinh doanh, marketing đến nghiên cứu khoa học đều cần những người có tư duy thống kê tốt. Việc rèn luyện năng lực này ngay từ bậc THPT giúp học sinh có cái nhìn đúng đắn về định hướng nghề nghiệp. Các em sẽ biết cách sử dụng toán học như một công cụ để kiến tạo sự nghiệp và đóng góp giá trị cho xã hội.

15/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Hệ thống hóa một số vấn đề về năng lực vận dụng kiến thức toán học vào cuộc sống của học sinh THPT 1. Thực tiễn cuộc sống với Toán học * Thực tiễn là gì? - Theo triết học “Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội”. - Theo Từ điển Tiếng Việt, với nghĩa danh từ, “thực tiễn” là “tổng thể nói chung những gì đang tồn tại, đang diễn ra trong tự nhiên và trong xã hội, về mặt có quan hệ đến đời sống con người”, với nghĩa động từ “thực tiễn” được hiểu là “những hoạt động của con người, trước hết là lao động sản xuất, nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội” [15, Tr.

* Cuộc sống là gì? - Theo Từ điển Tiếng Việt, “cuộc sống” là tổng thể nói chung những hoạt động trong đời sống của một con người hay một xã hội. “Cuộc sống” được hiểu là trạng thái của những điều thực sự tồn tại, chứ không phải là có thể xuất hiện hay tưởng tượng, nó là đời sống thực của một con người hay một xã hội bao gồm tất cả các hoạt động đời sống thường ngày của con người như sinh hoạt, lao động, học tập, nghiên cứu,. Thực tiễn cuộc sống vô cùng phong phú và đa dạng chúng đặt ra cho con người những vô vàn câu hỏi mà ở mỗi thời kì thì kiến thức toán học chưa cho phép giải quyết ngay được. Từ đó sinh ra mâu thuẫn giữa thực tiễn cuộc sống và lý luận toán học, chính nó thúc đẩy sự phát triển toán học để giải quyết những vấn đề của cuộc sống.

Chẳng hạn như: nhu cầu nghiên cứu đỏ đen trong canh bạc đã làm nảy sinh bộ môn xác suất. Từ việc biết đếm, bắt đầu con người hình thành những khái niệm đầu tiên về số tự nhiên, về bốn phép tính số học. Những kiến thức ban đầu về hình học nảy sinh từ nhu cầu về đo đạc diện tích và thể 5 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Toán học đã bắt đầu phát sinh từ giai đoạn này.

Chỉ nhờ vào kiến thức rời rạc và kinh nghiệm thực tế mà con người đã dần hệ thống hóa và từ đó Toán học được xây dựng thành một khoa học suy diễn. Toán học là kết quả của sự trừu tượng hóa những đối tượng vật chất khác nhau. Toán học và thực tiễn cuộc sống có quan hệ mật thiết với nhau, hàng loạt sự vật, hiện tượng với những mối quan hệ có tính quy luật, đó là những thứ con người chưa biết, cần phải khám phá và giải quyết. Trong các sách giáo khoa môn Toán ở trường THPT hiện hành (xuất bản năm 2007) đã có những đổi mới theo hướng liên hệ với thực tiễn cuộc sống so với bộ sách giáo khoa trước đây.

Nhiều bài học trong sách giáo khoa đã đưa nội dung có liên quan tới thực tiễn cuộc sống giúp học sinh nhận thấy thực tiễn cuộc sống và toán học có một mối liên hệ vô cùng mật thiết. Chẳng hạn như, trong chương trình toán THCS, các tiết thực hành được đưa vào dù chưa phải là nhiều, nhưng cũng đã thể hiện được sự cần thiết giữa toán học với thực tiễn cuộc sống, có 8 tiết được phân phối như sau: Toán 6: Thực hành: Trồng cây thẳng hàng (1 tiết) Thực hành: Đo góc trên mặt đất (1 tiết) Toán 7: Thực hành ngoài trời (2 tiết) Toán 8: Thực hành (đo khoảng cách giữa hai điểm trên mặt đất, trong đó có một điểm không thể tới được; đo chiều cao một vật) (2 tiết) Toán 9: Thực hành ngoài trời, ứng dụng thực tế các tỷ số lượng giác của góc nhọn (2 tiết) Học sinh được vận dụng các kiến thức toán học đã học vào trong các tiết thực hành, biết được ứng dụng của toán học trong thực tiễn cuộc sống từ đó rèn luyện các năng lực như năng lực sử dụng các công cụ đo, năng lực tính toán, năng lực hợp tác,. Từ đó học sinh sẽ thấy được ý nghĩa thật sự của toán học với thực tiễn cuộc sống. 6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Như vậy ta có thể thấy quan điểm chỉ đạo đã được quán triệt, xuyên suốt quá trình dạy học ở trường phổ thông, được nhấn mạnh trong Dự thảo chương trình cải cách giáo dục môn Toán.

Mặc dù việc quán triệt quan điểm này còn chưa được toàn diện và cân đối. Thực tế sách giáo khoa trung học phổ thông hiện nay cũng đã có những thay đổi lớn về nội dung theo hướng tích cực và đã có được những quan tâm nhất định tới vấn đề gắn liền toán học với thực tiễn cuộc sống. Điều này được thể hiện rất rõ trong việc sách giáo khoa mới có thêm vào những hình ảnh thực tế và đưa vào những bài toán gắn liền với thực tiễn cuộc sống. Nhưng nội dung này còn chưa thực được chú trọng đúng mức, mới chỉ dừng lại ở mức giới thiệu là chính, không có nhiều bài tập.

Vai trò của thực tiễn cuộc sống trong Toán học nói chung và chủ đề xác suất thống kê nói riêng là hết sức quan trọng. Rất nhiều những vấn đề quan trọng của thực tiễn cuộc sống thuộc về những bài toán của lí thuyết xác suất. Xác suất gắn bó và liên hệ mật thiết với khoa học thống kê. Về phương pháp thu thập, tổ chức, trình bày và diễn dịch dữ liệu.

Vì thế XSTK đóng một vị trí quan trọng trong nhiều ngành khoa học như: y khoa, sinh học, nông nghiệp, kinh tế,. Do vậy, các kiến thức về XSTK đã được đưa vào chương trình môn toán ở trường THPT. Các tri thức về khoa học Thống kê cũng như Xác suất đã được ứng dụng một cách rộng rãi. Mạch kiến thức XSTK là một thành phần bắt buộc của môn Toán, mang lại giá trị thiết thực và tính ứng dụng cao trong giáo dục toán học.

Cho tới thời điểm hiện nay, các tri thức này được trình bày trong chương trình Trung học phổ thông một cách có hệ thống. Cụ thể, thống kê toán học được trình bày ở Chương V (Đại số 10); Xác suất được trình bày ở Chương 2 (Đại số và Giải tích 11). Thống kê và xác suất hình thành năng lực nhận thức và phân tích các thông tin được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau cho học sinh, nắm được bản chất xác suất của nhiều sự phụ thuộc trong thực tiễn cuộc sống, hình thành sự hiểu biết về vai trò của thống kê như là một nguồn thông tin quan trọng về mặt xã hội, sử dụng tư duy thống kê để phân tích dữ liệu. Qua đó sẽ nâng cao cho HS sự hiểu biết và phương pháp nghiên cứu thế giới hiện đại.

7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Quan niệm về năng lực vận dụng toán học 1. Quan niệm về năng lực Năng lực là một phạm trù được bàn đến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội. Tùy vào đối tượng nghiên cứu của từng lĩnh vực, đối với mỗi ngành khoa học khái niệm năng lực được định nghĩa khác nhau.

Theo từ điển Tiếng Việt [15, Tr. 660-661], “năng lực” có hai nghĩa: 1. Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người có khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao.

Dưới góc độ Tâm lý học: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”. Những nhà nghiên cứu tâm lý học đã khẳng định: “năng lực của con người luôn gắn liền với hoạt động của chính con người, nội dung, tính chất của hoạt động được quy định bởi nội dung, tính chất của đối tượng mà hoạt động hướng dẫn”. Cho nên, khi nói đến năng lực không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ: khả năng ghi nhớ, khả năng tri giác,.) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý của cá nhân đáp ứng được yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả mong muốn. Với các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục, thuật ngữ “năng lực” được ý niệm rất sớm và có rất nhiều định nghĩa được đưa ra xuất phát từ nhiều hướng tiếp cận trong những bối cảnh khác nhau: Denyse Tremblay cho rằng: Năng lực là “khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống”.

Xavier Rogiers [21] đã mô hình hoá khái niệm NL thành các kỹ năng hành động trên những nội dung cụ thể trong một loại tình huống hoạt động: “Năng lực là sự tích hợp các kỹ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do tình huống này đặt ra”. 8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Riêng ở Việt Nam khi nhấn mạnh đến tính mục đích và tính nhân cách của NL, Phạm Minh Hạc [3] đưa ra định nghĩa: “Năng lực chính là một tổ hợp đặc điểm tâm lí của một con người (còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lí của một nhân cách), tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy”. Những định nghĩa đã đưa dù có sự khác nhau nhưng đa số đều chung một số quan điểm: Năng lực bao gồm một loạt các kiến thức, kỹ năng, thái độ hay các đặc tính cá nhân khác cần thiết để thực hiện công việc thành công. Bên cạnh đó, những yếu tố này phải quan sát hay đo lường được để có sự phân biệt giữa người có năng lực và người không có năng lực.

Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tán thành và sử dụng quan niệm về NL của Nguyễn Công Khanh [5]: Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống. Năng lực thường được phân chia thành hai loại cơ bản là: năng lực riêng biệt và năng lực chung.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ