mở đầu bằng kết từ còn. Đặc trưng ngữ điệu của kiểu câu này là sự nâng cao giọng ở phần cuối câu. Ví dụ: 12 - Còn cậu ta? - Còn nguy cơ thứ ba? - Còn tin vui? Dựa vào tiêu chí ngữ nghĩa, tác giả Cao Xuân Hạo chia câu hỏi thành hai loại nhỏ là: * Câu hỏi chính danh: Là câu chỉ có giá trị ngôn trung là hỏi để yêu cầu một lời giải đáp. Hỏi người khác hoặc hỏi chính mình để được trả lời hoặc tự giải đáp, gọi tắt là câu hỏi.
* Câu hỏi có giá trị ngôn trung khác: Câu hỏi chỉ là hình thức để người nghe tự biết ra cái việc phải đáp ứng. Hình thức câu hỏi còn có nhiều giá trị ngôn trung khác, từ khẳng định, phủ định, bác bỏ, chối cãi, ngờ vực đến thanh minh, hy vọng một cách mong manh, phân vân, lo lắng, cảm thán, cầu khiến. Một số tác giả dựa vào tiêu chí khả năng, chia câu hỏi thành ba kiểu sau: * Câu hỏi có lựa chọn * Câu hỏi không có lựa chọn * Câu hỏi giả thiết Như vậy, câu hỏi là một trong những kiểu câu được phân loại theo mục đích nói. Câu hỏi thường chứa các từ ngữ hỏi như: ai, gì, nào, tại sao, đâu, bao giờ, bao nhiêu, à, ư, hả, chứ, (có).
chưa hoặc có từ "hay" nối kết các vế lựa chọn. Chức năng chính của câu hỏi là dùng để hỏi. Ngoài ra, nó cũng có những chức năng khác như dùng để cầu khiến, để khẳng định, phủ định, đe doạ, bộc lộ tình cảm, cảm xúc.Dấu hiệu để nhận biết câu hỏi là các từ hỏi trong câu và dấu chấm hỏi được đặt ở cuối câu. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, nếu không dùng để hỏi thì câu hỏi có thể kết thúc bằng dấu chấm than, dấu chấm hoặc dấu chấm lửng.
Vấn đề dạy học câu hỏi theo quan điểm phát triển năng lực giao tiếp 1. Một số vấn đề về giao tiếp và năng lực giao tiếp a. Khái niệm Giao tiếp là một khái niệm được xem xét, nghiên cứu ở nhiều phương 13 diện: tâm lí học, giáo dục học, triết học. Trong lĩnh vực ngôn ngữ học, đáng lưu ý là định nghĩa về giao tiếp của tác giả Đỗ Hữu Châu “Nói một cách tổng quát, giao tiếp là một hoạt động liên cá nhân, có chức năng truyền đạt những thông tin về sự vật, hiện tượng của thực tế (thông tin miêu tả hay thông tin sự vật) nhằm tạo ra những biến đổi trong tình cảm, trạng thái tâm lí và hoạt động giữa những người tham gia giao tiếp (thông tin liên cá nhân hay thông tin tác động).
Nó cũng là nơi con người bộc lộ chính mình. Mỗi chức năng trên của giao tiếp đòi hỏi phải có một loại tín hiệu thích hợp với nó.” Từ định nghĩa trên, tác giả đã xác định các nhân tố giao tiếp là: ngữ cảnh (nhân vật giao tiếp, hiện thực ngoài diễn ngôn), ngôn ngữ (với các phương diện: đường kênh thính giác và thị giác của ngôn ngữ; các biến thể của ngôn ngữ: biến thể chuẩn mực hoá, biến thể phương ngữ địa lí và phương ngữ xã hội, ngữ vực và phong cách chức năng) và diễn ngôn được hiểu là “một thuật ngữ chung chỉ cách dùng ngôn ngữ tức chỉ các sản phẩm ngôn ngữ được tạo ra do một hành động giao tiếp nào đấy”. Tác giả Diệp Quang Ban cho rằng: “Giao tiếp là hiện tượng phổ biến trong các kiểu xã hội, đó là sự tiếp xúc giữa các cá thể trong một cộng đồng để truyền đạt một nội dung nào đó. Giao tiếp là một trong những đặc trưng của xã hội, giúp phân biệt xã hội với các quần thể không phải là xã hội” Như vậy, dù mỗi tác giả có thể nhìn ở góc độ này hay góc độ khác, rộng hay hẹp nhưng cái chung nhất trong sự giao tiếp được các nhà ngôn ngữ học khẳng định là sự trao đổi thông tin (hiểu theo nghĩa rộng) giữa con người trong cộng đồng xã hội.
Từ vấn đề giao tiếp chung của xã hội, khoa học giáo dục quan tâm đến vấn đề năng lực giao tiếp cô thể trong giáo dục, dạy học. Cho đến nay, cũng có nhiều cách hiểu, nhiều sự phân loại khác nhau đối với “năng lực giao tiếp” Theo Hymes, năng lực giao tiếp là năng lực biết khi nào nên nói, khi nào không, nói điều gì, nói với ai, nói ở đâu, nói theo cách nào. [Chuyển dẫn 14 theo Vũ Thị Thanh Hương (2006), "Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến vấn đề dạy và học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông hiện nay", Tạp chí Ngôn ngữ, số 4. 2] Mặc dù năng lực giao tiếp luôn là mục tiêu cơ bản của các chương trình dạy học ngôn ngữ hiện nay, song nó vẫn chưa được hiểu và lý giải một cách thống nhất.
Widdowson có cùng quan điểm với Hymes về năng lực giao tiếp. Theo ông, “năng lực giao tiếp của người nói bao gồm cả sự hiểu biết về những quy tắc mà tạo cho người nói có khả năng sử dụng chúng một cách phù hợp đểthực hiện những hành vi tu từ phong cách trong những tình huống giao tiếp xã hội nhất định. Do những quy tắc sử dụng này mang đặc trưng văn hóa và không thể thụ đắc một cách tự nhiên, nên chúng cần được mô tả cặn kẽ và dạy cẩn thận”. [Chuyển dẫn theo Vũ Thị Thanh Hương (2006), "Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến vấn đề dạy và học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông hiện nay", Tạp chí Ngôn ngữ, số 4, tr.
3] Murby (1978) cho rằng khái niệm ““năng lực giao tiếp” phải bao hàm khái niệm “năng lực ngữ pháp”. Nếu không đưa khái niệm ”năng lực ngữ pháp” vào khái niệm “năng lực giao tiếp” thì rất dễ làm cho người ta đi đến kết luận rằng: 1) Năng lực ngữ pháp và năng lực giao tiếp là hai loại năng lực phát triển độc lập với nhau và thường ưu tiên phát triển năng lực ngữ pháp trước. 2) Năng lực ngữ pháp không phải là một thành tố cơ bản của năng lực giao tiếp". [Chuyển dẫn theo Vũ Thị Thanh Hương (2006), "Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến vấn đề dạy và học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông hiện nay", Tạp chí Ngôn ngữ, số 4.
4] Như vậy có thể định nghĩa như sau về năng lực giao tiếp: Năng lực giao tiếp là khả năng vận dụng kiến thức, kinh nghiệm, thái độ, tình cảm liên quan đến giao tiếp, đảm bảo hoạt động giao tiếp thu được hiệu quả. Các thành tố của năng lực giao tiếp Có nhiều quan điểm xung quanh vấn đề các thành tố của năng lực giao tiếp: Celce Marcia cho rằng năng lực giao tiếp gồm có năm khía cạnh: năng lực ngôn ngữ, năng lực diễn ngôn, năng lực hành động lời nói, năng lực văn 15 hóa xã hội, năng lực chiến lược. Năng lực ngôn ngữ chính là các kiến thức về hệ thống ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, chính tả, từ ngữ, câu văn, đoạn văn, văn bản.), nó chính là cơ sở để chúng ta thực hiện giao tiếp. Năng lực ngôn ngữ rất quan trọng trong cách tiếp cận giao tiếp, hướng tới mục đích đạt được trình độ hiểu và sử dụng chính xác các diễn đạt ngôn ngữ.
Năng lực diễn ngôn là khả năng sắp xếp, tổ chức từ ngữ cấu trúc có tính liên kết và mạch lạc các ý tưởng một cách lôgic và thống nhất. Năng lực diễn ngôn đặt ra những câu hỏi như: các từ, ngữ và câu kết hợp lại với nhau như thế nào để tạo thành hội thoại, bài diễn thuyết, bức thư v v. Năng lực hành động lời nói là khả năng biểu đạt các ý định bằng hình thái ngôn ngữ thích hợp dựa trên kiến thức và kĩ năng về ngôn ngữ phù hợp với các ngữ cảnh giao tiếp. Năng lực này đòi hỏi cần phải có khả năng diễn đạt suy nghĩ, tình cảm của mình để tạo ra lời nói.
Năng lực văn hóa - xã hội là khả năng biểu đạt hành động lời nói một cách phù hợp trong bối cảnh văn hóa - xã hội. Nó cũng là tri thức cần thiết giúp cho việc sử dụng ngôn ngữ một cách phù hợp với khung cảnh, chủ đề và các mối quan hệ xã hội. Năng lực văn hóa - xã hội đặt ra những câu hỏi như: những từ ngữ nào phù hợp với cảnh huống giao tiếp và chủ đề này? Cần phải diễn đạt một thái độ cụ thể (lịch sự, thân thiện, tôn trọng.) như thế nào khi cần thiết? Làm sao biết được người đối thoại đang có thái độ như thế nào? … Và cuối cùng, năng lực chiến lược thể hiện khả năng đàm phán về mặt ngữ nghĩa, khả năng sử dụng các chiến lược giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để nhận diện và giải quyết những sự đụng độ giao tiếp, để lấp đầy những khoảng trống tri thức về ngôn ngữ trong cảnh huống. Năng lực chiến lược đặt ra những câu hỏi như: Làm thế nào để biết lời nói của mình đã bị hiểu sai và khi đó cần phải nói gì? Cần phải làm gì để diễn đạt ý tưởng của mình nếu không biết từ ngữ cô thể dùng để diễn đạt nó là gì?.
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cho rằng các năng lực trên quá phức 16 tạp khó triển khai trong dạy học. Hơn nữa, cái gọi là “năng lực hành động lời nói” thực ra lại không đầy đủ trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Trong giao tiếp, ngoài hành động “biểu đạt các ý định bằng hình thái ngôn ngữ thích hợp dựa trên kiến thức và kĩ năng về ngôn ngữ phù hợp với các ngữ cảnh giao tiếp” (tạo lập lời nói) còn phải bao gồm hành động nghe và đọc (tiếp nhận lời nói). Còn năng lực “chiến lược” thì chỉ cần thiết ở giai đoạn đầu khi chưa nắm vững ngôn ngữ đối với người học ngoại ngữ hoặc học ngoại ngữ thứ hai (ví dụ người dân tộc ít người học tiếng Việt).
Bởi vậy, các nhà nghiên cứu tương đối thốngnhất quan niệm năng lực giao tiếp bao gồm: - Năng lực ngôn ngữ (tương đương với năng lực ngôn ngữ và năng lực diễn ngôn trình bày trên đây). - Năng lực hoạt động lời nói (đọc, nghe, nói, viết) phù hợp với ngữ cảnh, đạt hiệu quả. - Năng lực văn hóa xã hội. Trong luận văn này chúng tôi theo quan niệm phổ biến trên đây.