Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ DẤU HIỆU ĐỊNH TỘI THUỘC MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ DẤU HIỆU ĐỊNH TỘI 1. Khái niệm dấu hiệu định tội Dấu hiệu định tội là những dấu hiệu đặc trưng điển hình, phản ánh được đầy đủ tính chất nguy hiểm của một tội phạm và để phân biệt tội phạm này với tội phạm khác. Đó là những dấu hiệu được quy định trong cấu thành tội phạm cơ bản của một tội phạm cụ thể được quy định trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.
Cũng như những hoạt động khác của con người trong xã hội, hành vi phạm tội luôn diễn ra theo một quá trình nhất định. Người cố ý phạm tội luôn mong muốn thực hiện đầy đủ quá trình đó để đạt được mục đích của mình. Nhưng trong thực tế, có những trường hợp vì nguyên nhân khách quan, người phạm tội đã không thực hiện được toàn bộ quá trình phạm tội mà phải dừng lại ở những thời điểm khác nhau. Để đánh giá mức độ thực hiện tội phạm, luật hình sự Việt Nam đã phân ra ba mức độ thực hiện tội phạm: Chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành.
Vấn đề các giai đoạn thực hiện tội phạm chỉ đặt ra đối với tội cố ý trực tiếp. Đối với tội cố ý gián tiếp hay vô ý chỉ có thể là trường hợp không mong muốn tội phạm xảy ra cho nên không thể quy định có việc "chuẩn bị" hay "chưa đạt" để buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự về điều chưa xảy ra và họ cũng không mong muốn nó xảy ra. Dấu hiệu định tội trong tội phạm hoàn thành Các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm cơ bản sẽ là dấu hiệu định tội cho trường hợp phạm tội của người thực hiện và là trường hợp tội phạm hoàn thành. Tức là, đối với một tội danh, nhà làm luật mô tả trong 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các điều luật phần riêng dấu hiệu đặc trưng của tội phạm để làm cơ sở pháp lý cho việc xác định và phân biệt tội phạm này với tội phạm khác và có thể cả với trường hợp chưa phải là tội phạm.
Mỗi một tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự đều phải có một cấu thành tội phạm cơ bản, trong cấu thành tội phạm có thể có nhiều trường hợp phạm tội được mô tả với các dạng hành vi phạm tội khác nhau hoặc với các đối tượng tác động khác nhau. Dựa vào cấu thành tội phạm có thể nhận thức được mô hình cấu trúc của một loại tội mà không có sự hiểu rộng ra hoặc hẹp đi và cũng không có sự nhầm lẫn giữa cấu trúc của tội này với cấu trúc của tội khác. Nội dung biểu hiện của các yếu tố cấu thành tội phạm được phản ảnh dưới dạng dấu hiệu của cấu thành tội phạm phải là những nội dung biểu hiện có tính đặc trưng của một loại tội. Cấu thành tội phạm cơ bản đồng thời cũng là sự phản ánh pháp lý bản chất xã hội của một loại tội phạm, cho nên những dấu hiệu trong cấu thành tội phạm đòi hỏi phải thể hiện được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của một loại tội.
Như vậy, vấn đề đặt ra cho các nhà làm luật khi lựa chọn những nội dung biểu hiện đặc trưng của bốn yếu tố cấu thành tội phạm để phản ánh trong cấu thành tội phạm là phải đảm bảo những dấu hiệu của cấu thành tội phạm vừa đủ cần thiết cho sự xác định ranh giới giữa tội phạm này với tội khác nhưng đồng thời cũng phải phản ánh được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đó. Thông thường, những dấu hiệu của cấu thành tội phạm cần thiết để phân biệt tội phạm mà cấu thành tội phạm phản ánh với những tội phạm khác có thể cũng là những dấu hiệu thể hiện được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của loại tội đó. Ví dụ: Ở tội giết người (Điều 93 Bộ luật hình sự) nhà làm luật quy định dấu hiệu hành vi tước đoạt tính mạng người khác và dấu hiệu lỗi cố ý là những dấu hiệu đặc trưng đủ cho phép phân biệt tội giết người với những tội khác. Nhưng ta có thể thấy, nếu chỉ riêng những dấu hiệu đó thôi thì chưa đủ để thể hiện được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của tội giết người, mà cần phải thêm dấu hiệu hậu quả chết người cùng dấu hiệu quan hệ nhân quả giữa hành vi tước đoạt tính mạng người khác và hậu quả chết người.
Vì thế, 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong cấu thành tội phạm tội giết người theo luật hình sự Việt Nam từ trước đến nay đều có dấu hiệu hậu quả chết người. Mặt chủ quan của cấu thành tội phạm hoàn thành được biểu hiện bằng lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp) hay vô ý (vô ý do cẩu thả hoặc vô ý vì quá tự tin) nhưng cũng có thể bằng hai hình thức lỗi (lỗi cố ý với hành vi và lỗi vô ý với hậu quả do hành vi gây ra). Sự đánh giá về mặt pháp lý hình sự các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm là nhằm xác định hình thức lỗi của tội phạm được thực hiện và vai trò của lỗi trong việc định tội danh đối với tội phạm hoàn thành. Khi định tội danh đối với tội phạm hoàn thành trong mặt chủ quan của tội phạm, người định tội danh phải chứng minh được lỗi (cố ý hoặc vô ý) của chủ thể của tội phạm đó, tức là phải xác định được yếu tố lý trí và ý chí của người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm tương ứng.
Việc xác định rõ ràng và chính xác của mặt chủ quan của tội phạm được thực hiện với hai hình thức lỗi có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật hình sự giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự dựa trên các hình thức lỗi. TSKH Lê Cảm đã đưa ra định nghĩa khoa học về vấn đề định tội danh đối với tội phạm hoàn thành, theo đó thì: Định tội danh đối với tội phạm hoàn thành là sự đánh giá về mặt pháp lý hình sự hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trên cơ sở đối chiếu, so sánh và kiểm tra để xác định sự giống nhau giữa các dấu hiệu của hành vi ấy với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể do điều luật tương ứng trong phần các tội phạm Bộ luật hình sự quy định [11, tr. Như vậy, khi xây dựng các cấu thành tội phạm cơ bản thì luôn phải có sự thống nhất giữa tội danh với sự mô tả trong cấu thành tội phạm. Trong trường hợp có những hành vi phạm tội khác nhau cùng được mô tả trong cấu thành tội phạm thì tội danh phải bao quát được hết các hành vi phạm tội khác nhau đó mà không thể lấy một hành vi phạm tội làm tội danh, cũng như 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không thể ghép tất cả các hành vi phạm tội đó thành tội danh.
Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự cho thấy, có nhiều vụ án mà người phạm tội chỉ có một hành vi phạm tội, nhưng tội danh đó bao hàm nhiều hành vi phạm tội? Vậy xác định tội danh cho người phạm tội đó như thế nào cho đúng, cho hợp lý thì đó không phải là điều dễ dàng đối với các nhà áp dụng pháp luật. Dấu hiệu định tội trong tội phạm chưa hoàn thành Các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm của tội phạm chưa hoàn thành là dấu hiệu định tội cho trường hợp phạm tội của người thực hiện và là trường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt. Luật hình sự không chỉ coi hành vi thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản là tội phạm mà còn coi cả hành vi chuẩn bị cho việc thực hiện tội phạm cố ý cũng như hành vi chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của một tội cố ý vì nguyên nhân khách quan là tội phạm. Để có sở pháp lý cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đòi hỏi phải quy định những trường hợp phạm tội này dưới hình thức cấu thành tội phạm trong luật hình sự.
Đó là cấu thành tội phạm của chuẩn bị phạm tội và cấu thành tội phạm của phạm tội chưa đạt. Hai cấu thành tội phạm này không quy định trực tiếp cho từng tội danh mà chúng được quy định trong các quy phạm thuộc Phần chung Bộ luật hình sự. Đó là các dấu hiệu có tính chất chung cho tất cả các tội danh nhưng chưa phải là cấu thành tội phạm của chuẩn bị phạm tội và cấu thành tội phạm của phạm tội chưa đạt của tội phạm cụ thể. Cấu thành tội phạm này chỉ được hình thành trên cơ sở kết hợp cấu thành tội phạm của tội phạm cụ thể với quy định chung về chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt.
Bất cứ hành vi nào, không có ngoại lệ, đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì đều phải thỏa mãn những dấu hiệu của một cấu thành tội phạm. Nếu đối chiếu hành vi chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt với chỉ riêng cấu thành tội phạm cơ bản thì hành vi này không thỏa mãn hoặc chưa thỏa mãn hết những dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản. Nhưng nếu đặt cấu thành tội phạm cơ bản trong mối 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com liên hệ với điều luật quy định về các giai đoạn thực hiện tội phạm thì hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đều thỏa mãn những dấu hiệu tổng hợp của cấu thành tội phạm cơ bản và của chế định các giai đoạn thực hiện tội phạm. Sự tổng hợp những dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản với những dấu hiệu của chế định các giai đoạn thực hiện tội phạm chính là cấu thành tội phạm dự phòng cho cấu thành tội phạm cơ bản - cấu thành tội phạm của hành vi chuẩn bị phạm tội và cấu thành tội phạm của hành vi phạm tội chưa đạt.
Cơ sở pháp lý duy nhất để truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt là sự thỏa mãn dấu hiệu của những cấu thành tội phạm dự phòng này.