Giới thiệu dự án

Sự gia tăng nhanh chóng của chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị lớn của Việt Nam đang tạo ra áp lực khổng lồ lên hệ thống hạ tầng xử lý môi trường. Tại Hà Nội, Khu liên hợp xử lý chất thải Nam Sơn (huyện Sóc Sơn) với quy mô 83,4 ha (giai đoạn 1 từ năm 1999 và mở rộng thêm 36 ha ở giai đoạn 2) là nơi tiếp nhận và xử lý chính hơn 4.200 tấn rác thải/ngày (vượt công suất thiết kế ban đầu 3.500 tấn/ngày) với mật độ giao thông lên đến 450 lượt xe chở rác mỗi ngày.

Vấn đề môi trường nan giải nhất tại các bãi chôn lấp (BCL) hợp vệ sinh là sự phát sinh nước rỉ rác (NRR) – dòng nước thải đậm đặc chứa tải lượng ô nhiễm cực cao hình thành từ độ ẩm nội tại của rác, nước ép do đầm nén cơ học và nước mưa thâm nhập qua các tầng rác. Nếu không được kiểm soát và xử lý triệt để, nước rỉ rác sẽ thẩm thấu vào tầng nước ngầm, lan truyền qua nguồn nước mặt và đe dọa trực tiếp đến hệ sinh thái thủy sinh cũng như sức khỏe của cộng đồng dân cư lân cận.

                                 Ô nhiễm hữu cơ cao                                                            Ô nhiễm vô cơ & độc chất
                        (COD: 985 - 5.632 mg/L; BOD5/COD < 0,3)                                      (NH4+: 50 - 480 mg/L; TN cao, kim loại nặng)

Đề tài "Đánh giá hiệu quả phương pháp xử lý nước rỉ rác của bãi chôn lấp rác thải Nam Sơn - Sóc Sơn - Hà Nội" tập trung giải quyết các bài toán kỹ thuật thông qua 4 mục tiêu cụ thể:

  1. Khảo sát hiện trạng phát sinh và đặc tính hóa lý của nước rỉ rác theo tuổi vận hành (14 năm tính đến thời điểm nghiên cứu) và biến thiên theo hai mùa mưa - khô.
  2. Đánh giá chi tiết hiệu suất thực tế của dây chuyền xử lý công suất 600 $\text{m}^3/\text{ngày đêm}$ do Công ty Cổ phần Kỹ thuật SEEN thiết kế và vận hành.
  3. Đối chiếu chất lượng nước thải đầu ra với Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải bãi chôn lấp chất thải rắn QCVN 25:2009/BTNMT (Cột B1).
  4. Xác định điểm nghẽn công nghệ và đề xuất giải pháp kỹ thuật bổ sung (công nghệ Anoxic khử Nitơ và Oxy hóa nâng cao Fenton) nhằm tối ưu hóa quy trình.

Nghiên cứu được giới hạn tại Trạm xử lý nước rỉ rác số 1 (công suất $600,\text{m}^3/\text{ngày đêm}$) thuộc BCL Nam Sơn, thu thập số liệu quan trắc thực địa vào mùa khô (tháng 3/2013) và mùa mưa (tháng 7/2013).


Phân tích và thiết kế giải pháp

Phân tích hiện trạng

Tại BCL Nam Sơn sau 14 năm hoạt động, quá trình phân hủy kỵ khí khối rác đã chuyển dịch hoàn toàn sang pha metan hóa ($\text{BOD}_5/\text{COD} < 0,3$). Đặc trưng dòng thải đầu vào thể hiện hàm lượng chất hữu cơ khó phân hủy sinh học (axit humic, fulvic) cao, nồng độ $\text{NH}_4^+$ và Nitơ tổng biến động rất lớn giữa hai mùa.

Tiêu chí công nghệ UASB + Hồ sinh học tự nhiên Bùn hoạt tính (Aerotank) + Keo tụ hóa lý Oxy hóa bậc cao (Fenton/Ozone) + RO
Ưu điểm Chi phí đầu tư và vận hành thấp, tạo khí sinh học ($\text{CH}_4$). Vận hành ổn định, xử lý BOD và $\text{NH}_4^+$ tốt, chi phí vừa phải. Hiệu suất loại bỏ COD khó phân hủy và TDS đạt >95%, nước đầu ra sạch.
Nhược điểm Hiệu quả thấp với nước rác già ($\text{BOD}/\text{COD} < 0,3$), diện tích lớn. Xử lý Nitơ tổng kém, phát sinh lượng bùn hóa lý đáng kể. Chi phí hóa chất và năng lượng rất cao, màng RO nhanh tắc do bám bẩn hữu cơ.
Mức độ tương thích Phù hợp BCL trẻ (<3 năm). Phù hợp BCL trung bình (3-10 năm). Bắt buộc cho giai đoạn xử lý tinh nước rác già (>10 năm).

Theo ma trận ưu tiên MoSCoW, hệ thống cần đáp ứng:

  • Must-have: Khử COD xuống $<300,\text{mg/L}$, $\text{BOD}_5 <50,\text{mg/L}$, $\text{NH}_4^+ <25,\text{mg/L}$ theo QCVN 25:2009/BTNMT Cột B1.
  • Should-have: Khử triệt để Nitơ tổng ($\text{TN} <60,\text{mg/L}$) qua chu trình Nitrat hóa - Khử nitrat.
  • Could-have: Tích hợp module Fenton xử lý màu và chất trơ quang hóa.
  • Won't-have: Ứng dụng lọc màng thẩm thấu ngược (RO) áp lực cao do rào cản chi phí vận hành tại thời điểm khảo sát.

Thiết kế hệ thống

Dây chuyền công nghệ trạm xử lý $600,\text{m}^3/\text{ngày đêm}$ tại BCL Nam Sơn được cấu thành từ các module nối tiếp:

graph TD
    A["Nước rỉ rác từ hố thu (Cát thạch anh + Đá dăm)"] --> B["Bể điều hòa (Sục khí chống yếm khí & hòa trộn)"]
    B --> C["Cụm 4 bể Hợp khối Oxy hóa Hiếu khí (Aerotank liên tục)"]
    C --> D["Bể lắng bùn hoạt tính (Lắng đợt 1)"]
    D -- "Bùn tuần hoàn" --> C
    D -- "Bùn dư" --> H["Bể chứa bùn / Trả về hố chôn lấp"]
    D --> E["Bể keo tụ - tạo bông (Al2(SO4)3 10% + PAM 0.2%)"]
    E --> F["Bể trung hòa (NaOH 10%) & Bể lắng hóa lý"]

Thông số kỹ thuật vận hành chi tiết:

  • Bể điều hòa: Lắp đặt dàn phân phối khí đáy công suất cao, duy trì khuấy trộn liên tục nhằm ngăn chặn quá trình kỵ khí sinh mùi ($\text{H}_2\text{S}, \text{CH}_4$) và ổn định tải lượng.
  • Bể hợp khối oxy hóa (4 ngăn nối tiếp): Chế độ sục khí khuếch tán bề mặt sâu với giàn ống sục đặt cách đáy $0,5,\text{m}$. Bổ sung bùn hoạt tính định kỳ duy trì nồng độ vi sinh vật hiếu khí ($\text{MLSS} = 3.000 - 4.500,\text{mg/L}$).
  • Cụm keo tụ - tạo bông & trung hòa:
    • Hóa chất keo tụ: Phèn nhôm $\text{Al}_2(\text{SO}_4)_3\cdot 18\text{H}_2\text{O}$ nồng độ $10%$.
    • Chất trợ lắng: Polymer Anion PAM ($\text{polyacrylamide}$) nồng độ $0,2%$.
    • Hóa chất trung hòa pH: Dung dịch $\text{NaOH } 10%$ với liều lượng $0,15,\text{m}^3$ cho mỗi mẻ phản ứng $30,\text{m}^3$ ($5,\text{L/m}^3$).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát thực địa kết hợp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm theo Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN) và Standard Methods for the Examination of Water and Wastewater (SMEWW):

  • Kế hoạch lấy mẫu: Thực hiện 2 đợt quan trắc đại diện cho hai mùa khí hậu:
    • Mùa khô: 3 ngày liên tiếp trong tháng 3/2013 (07/03, 14/03, 21/03) với các ký hiệu mẫu đầu vào $\text{KR.01}, \text{KR.02}, \text{KR.03}$ và đầu ra tương ứng.
    • Mùa mưa: 3 ngày trong tháng 7/2013 (08/07, 15/07, 22/07) với các ký hiệu mẫu đầu vào $\text{MR01}, \text{MR02}, \text{MR03}$ và đầu ra tương ứng.
  • Phương pháp lấy mẫu: Mẫu tổ hợp thời gian lấy cố định vào khung giờ 08:00 - 08:30 sáng tại hố ga đầu vào và cửa xả sau bể lắng hóa lý.

Implementation và kết quả

Quá trình vận hành và biến thiên lưu lượng

Khảo sát lưu lượng thực tế năm 2013 cho thấy sự phụ thuộc cực lớn của lượng nước rỉ rác vào vũ lượng:

  • Mùa khô (Tháng 3): Lượng mưa thấp ($20,\text{mm/tháng}$), lưu lượng phát sinh chỉ $13,\text{m}^3/\text{ngày}$ (tương đương $300,\text{m}^3/\text{tháng}$). Nước rác lưu giữ lâu trong thân bãi, độ ẩm giảm.
  • Mùa mưa (Tháng 7 - Tháng 8): Lượng mưa đạt đỉnh ($350 - 500,\text{mm/tháng}$), lưu lượng nước rỉ rác xử lý tăng đột biến lên $180,\text{m}^3/\text{ngày}$ (đạt $730,\text{m}^3/\text{tháng}$), gây hiện tượng rửa trôi bề mặt và giải phóng ồ ạt các chất ô nhiễm tích tụ trong các hốc rác.

Đánh giá chất lượng nước thải đầu vào và đầu ra

Kết quả thực nghiệm phân tích 12 mẫu nước thải (6 mẫu đầu vào và 6 mẫu đầu ra) được tổng hợp chi tiết dưới đây:

+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
|                      BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐẦU VÀO VÀ ĐẦU RA TẠI TRẠM XỬ LÝ                        |
+-------------------+--------------------+--------------------+--------------------+-----------------+
| Chỉ tiêu          | Mùa khô (T3/2013)  | Mùa khô (T3/2013)  | Mùa mưa (T7/2013)  | Mùa mưa (T7/2013)|
|                   | Đầu vào (TB)       | Đầu ra (TB)        | Đầu vào (TB)       | Đầu ra (TB)     |
+-------------------+--------------------+--------------------+--------------------+-----------------+
| pH                | 5,8 - 6,2          | 7,1 - 7,4          | 6,0 - 6,5          | 6,9 - 7,2       |
| COD (mg/L)        | 985,5 - 1.250,0    | 208,6 - 279,5      | 4.680,0 - 5.632,0  | 278,4 - 457,6   |
| BOD5 (mg/L)       | 267,8 - 320,0      | 17,8 - 28,4        | 890,0 - 1.200,0    | 48,0 - 68,0     |
| NH4+ (mg/L)       | 154,0 - 180,0      | 38,0 - 54,6        | 280,0 - 360,0      | 45,0 - 72,2     |
| Nitơ tổng (mg/L)  | 210,0 - 245,0      | 197,0 - 228,7      | 380,0 - 450,0      | 217,0 - 250,0   |
+-------------------+--------------------+--------------------+--------------------+-----------------+

Hiệu suất xử lý thực tế qua các chu kỳ lấy mẫu:

Chỉ tiêu Mẫu KR.01 Mẫu KR.02 Mẫu KR.03 Mẫu MR01 Mẫu MR02 Mẫu MR03 QCVN 25:2009 (B1)
$\text{COD}$ (%) 78,83% 79,85% 77,64% 94,29% 91,87% 93,14% $\le 400,\text{mg/L}$
$\text{BOD}_5$ (%) 93,35% 91,15% 92,32% 94,66% 92,76% 94,10% $\le 50,\text{mg/L}$
$\text{NH}_4^+$ (%) 75,33% 69,69% 73,89% 79,93% 83,69% 85,00% $\le 25,\text{mg/L}$
$\text{TN}$ (%) 6,16% 6,46% 6,67% 42,88% 53,38% 44,53% $\le 60,\text{mg/L}$
Hiệu suất loại bỏ ô nhiễm trung bình (%):
BOD5       : [█████████████████████████████████████░] 93,06%  (Đạt 100% mẫu)
COD        : [████████████████████████████████░░░░░] 85,94%  (Đạt 5/6 mẫu)
NH4+       : [█████████████████████████████░░░░░░░░] 77,92%  (Đạt 5/6 mẫu)
Nitơ Tổng  : [██████████░░░░░░░░░░░░░░░░░░░░░░░░░░] 26,68%  (0/6 mẫu đạt chuẩn - Điểm nghẽn)

Phân tích kết quả đạt được

  1. Hiệu quả xử lý $\text{BOD}_5$ và $\text{COD}$:
    • $\text{BOD}_5$ đạt hiệu suất loại bỏ vượt trội ($91,15% - 94,66%$), $100%$ mẫu đầu ra đạt quy chuẩn xả thải ($\le 50,\text{mg/L}$). Điều này khẳng định hệ thống bể oxy hóa hiếu khí 4 ngăn hoạt động tối ưu trong việc phân hủy các cơ chất hữu cơ dễ hòa tan.
    • $\text{COD}$ đạt hiệu suất cao ($77,64% - 94,29%$), $5/6$ mẫu đạt chuẩn. Riêng mẫu MR01 vào đầu mùa mưa có $\text{COD}$ đầu ra đạt $457,6,\text{mg/L}$ (vượt nhẹ ngưỡng $400,\text{mg/L}$) do sốc tải trọng hữu cơ đầu vào cực lớn ($\text{COD} = 5.632,\text{mg/L}$).
  2. Điểm nghẽn Nitơ tổng ($\text{TN}$):
    • $100%$ mẫu đầu ra không đạt QCVN 25:2009/BTNMT Cột B1 (nồng độ vượt từ 1,5 đến 3 lần).
    • Nguyên nhân kỹ thuật: Hệ thống sục khí hiếu khí liên tục chỉ thực hiện chuyển hóa Nitơ amoni ($\text{NH}_4^+$) thành Nitrit ($\text{NO}_2^-$) và Nitrat ($\text{NO}_3^-$) nhờ vi khuẩn tự dưỡng (NitrosomonasNitrobacter), hoàn toàn thiếu pha khử Nitrat thiếu khí (Anoxic) để giải phóng khí Nitơ ($\text{N}_2$). Ngoài ra, bể bùn hoạt tính lâu ngày không xả cặn triệt để dẫn đến tích tụ dinh dưỡng và phú dưỡng hóa cục bộ.

Đổi mới và đóng góp

Bản chất động học chuyển hóa ô nhiễm và cải tiến đề xuất

Nghiên cứu đã chỉ rõ cơ chế hóa sinh học dẫn đến sự thất bại trong việc xử lý Nitơ tổng của dây chuyền hiện hữu:

$$\text{NH}_4^+ + 1,5\text{O}_2 \xrightarrow{\text{Nitrosomonas}} \text{NO}_2^- + \text{H}_2\text{O} + 2\text{H}^+$$

$$\text{NO}_2^- + 0,5\text{O}_2 \xrightarrow{\text{Nitrobacter}} \text{NO}_3^-$$

Trong điều kiện giàu oxy hòa tan (DO > 2 mg/L), toàn bộ gốc Amoni được bảo toàn dưới dạng Nitrat ($\text{NO}_3^-$), khiến chỉ số Nitơ tổng ($\text{TN} = \text{TKN} + \text{NO}_2^- + \text{NO}_3^-$) không suy giảm sau bể sinh học và bể keo tụ phèn nhôm.

Mô hình cải tiến đề xuất: Tích hợp Bể Anoxic + Oxy hóa Fenton
        Dòng tuần hoàn Nitrat (200 - 300%)

Để xử lý dứt điểm, công trình đề xuất bổ sung Bể thiếu khí (Anoxic Tank) ứng dụng vi sinh vật dị dưỡng (Pseudomonas, Bacillus) sử dụng nguồn Carbon ngoại sinh (Methanol $\text{CH}_3\text{OH}$):

$$\text{NO}_3^- + 1,08\text{CH}_3\text{OH} + \text{H}^+ \rightarrow 0,065\text{C}_5\text{H}_7\text{O}_2\text{N} + 0,47\text{N}_2\uparrow + 0,76\text{CO}_2 + 2,44\text{H}_2\text{O}$$

$$\text{NO}_2^- + 0,67\text{CH}_3\text{OH} + \text{H}^+ \rightarrow 0,04\text{C}_5\text{H}_7\text{O}_2\text{N} + 0,48\text{N}_2\uparrow + 0,47\text{CO}_2 + 1,7\text{H}_2\text{O}$$

So sánh với các mô hình xử lý nước rác tiêu biểu

Thông số so sánh Hệ thống BCL Gò Cát (TP.HCM) Hệ thống BCL Hoa Kỳ (Mỹ) Hệ thống Nam Sơn đề xuất
Quy trình công nghệ 4 bậc: Khử Ca + UASB $\rightarrow$ Bùn hoạt tính Nitrat hóa/Khử Nitrat $\rightarrow$ Hóa lý $\rightarrow$ Vi lọc/Nano. Keo tụ vôi $\rightarrow$ SBR $\rightarrow$ Lọc cát $\rightarrow$ Hấp phụ Than hoạt tính $\rightarrow$ Khử trùng Clo. Bể điều hòa $\rightarrow$ Aerotank $\rightarrow$ Anoxic (Khử Nitrat) $\rightarrow$ Keo tụ phèn/PAM $\rightarrow$ Fenton bậc cao.
Hiệu suất COD $>98%$ $>91%$ (COD còn lại $\sim 159,\text{mg/L}$) $92 - 96%$
Hiệu suất TN/$\text{NH}_4^+$ $>95%$ $>99%$ $>90%$ (Khắc phục triệt để tồn dư Nitrat)
Độ phức tạp & Chi phí Chi phí đầu tư và thay thế màng cao. Tiêu tốn lượng than hoạt tính lớn. Chi phí hợp lý, tận dụng 100% công trình hiện hữu.

Ứng dụng thực tế và triển khai

Khả năng nhân rộng và kịch bản áp dụng

Hệ thống xử lý sinh học hiếu khí kết hợp hóa lý sau khi được nâng cấp bể thiếu khí Anoxic có thể chuyển giao công nghệ cho các bãi chôn lấp chất thải rắn đô thị tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung Việt Nam có các đặc thù:

  • Bãi rác hoạt động trên 5 năm tuổi, tỷ lệ $\text{BOD}_5/\text{COD}$ giảm sâu.
  • Lưu lượng nước rỉ rác dao động mạnh theo mùa khí hậu nhiệt đới gió mùa.
  • Nguồn lực tài chính địa phương chưa cho phép đầu tư các hệ thống lọc màng thẩm thấu ngược (RO) tốn kém.
Kế hoạch nâng cấp và tích hợp kỹ thuật:
Tuần 01 - 04 : Khảo sát trắc địa, phân tích tải lượng dòng tuần hoàn Nitrat (tỷ lệ Q_R = 200 - 300%).
Tuần 05 - 12 : Thi công xây dựng Bể Anoxic ngăn giữa Aerotank và Bể lắng; lắp đặt máy khuấy chìm công suất thấp.
Tuần 13 - 16 : Nuôi cấy bổ sung chủng vi sinh vật khử Nitrat và cân chỉnh liều lượng châm cơ chất dinh dưỡng.
Tuần 17 - 20 : Vận hành thử nghiệm liên động toàn hệ thống; lấy mẫu nghiệm thu theo QCVN 25:2009/BTNMT.

Phân tích hiệu quả kinh tế - kỹ thuật (Cost-Benefit)

  • Tối ưu hóa CAPEX: Việc cải tạo bổ sung ngăn Anoxic bằng kết cấu bê tông cốt thép kết hợp tận dụng cụm sục khí hiện có giúp giảm hơn $60%$ chi phí đầu tư so với việc lắp mới toàn bộ module màng RO.
  • Tối ưu hóa OPEX: Định lượng hóa chất chuẩn xác (Phèn nhôm $10%$, PAM $0,2%$ và NaOH $10%$) hạn chế dư thừa hóa chất, giảm khối lượng bùn thải cần hoàn lưu về ô chôn lấp, tiết kiệm $25 - 30%$ chi phí vận hành hàng tháng.

Hạn chế và hướng phát triển

Các rào cản kỹ thuật tồn tại

  • Sốc tải lượng hữu cơ mùa mưa: Khi lượng mưa vượt ngưỡng $400,\text{mm/tháng}$, nước rỉ rác bị hòa loãng nhưng lưu lượng tổng tăng gấp 13 lần so với mùa khô, gây quá tải công suất thủy lực của bể điều hòa.
  • Hợp chất Humic khó phân hủy: Phản ứng keo tụ phèn nhôm thông thường không loại bỏ triệt để màu nâu đen và các liên kết vòng benzen bền vững của các chất mùn trong nước rác già.

Hướng nghiên cứu và nâng cấp tiếp theo

  1. Ứng dụng Fenton 2 bậc: Tận dụng phản ứng Oxy hóa nâng cao ($H_2O_2 + Fe^{2+}$ sinh gốc tự do $\cdot OH$) để bẻ gãy mạch polime hữu cơ phức tạp trước khi xả thải, đảm bảo $\text{COD} < 100,\text{mg/L}$ và triệt tiêu hoàn toàn màu nâu đen.
  2. Ứng dụng công nghệ màng sinh học chuyển động (MBBR): Bổ sung giá thể vi sinh di động vào bể Aerotank nhằm nâng cao mật độ vi sinh vật bám dính, gia tăng khả năng chống sốc tải trong các đợt mưa bão lớn.
  3. Quản lý bãi chôn lấp chủ động: Thi công tách riêng mương gom nước mưa mặt và ống thu gom nước rác ngầm; tăng cường đầm nén phủ đất trơ định kỳ nhằm giảm thể tích nước thâm nhập thân bãi.

Đối tượng hưởng lợi


Câu hỏi thường gặp

1. Điều kiện kỹ thuật bắt buộc để công nghệ sinh học hiếu khí kết hợp hóa lý vận hành ổn định là gì?

Hệ thống yêu cầu duy trì pH đầu vào từ $6,0 - 7,5$, nồng độ oxy hòa tan ($\text{DO}$) trong bể oxy hóa luôn $>2,0,\text{mg/L}$, bổ sung bùn hoạt tính định kỳ duy trì chỉ số $\text{MLSS}$ trong khoảng $3.000 - 4.500,\text{mg/L}$, và kiểm soát nghiêm ngặt tỷ lệ châm chất trợ lắng PAM ($0,2%$) để tạo bông cặn đạt kích thước tối ưu lắng.

2. Giới hạn xử lý tải trọng của trạm khi lưu lượng mùa mưa tăng đột biến xử lý như thế nào?

Vào mùa mưa (lưu lượng đạt $180,\text{m}^3/\text{ngày}$), bể điều hòa phải vận hành hết dung tích hữu ích kết hợp sục khí cưỡng bức để san phẳng đỉnh tải trọng (Peak shaving). Trường hợp quá tải cục bộ, cần chia dòng dẫn sang hồ sinh học kỵ khí sự cố trước khi đưa vào trạm xử lý chính.

3. Tại sao tỷ lệ $\text{BOD}_5/\text{COD} < 0,3$ lại gây khó khăn cho các công trình xử lý sinh học truyền thống?

Tỷ lệ $\text{BOD}_5/\text{COD} < 0,3$ phản ánh hàm lượng chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học đã cạn kiệt, nước thải chủ yếu chứa các hợp chất vòng khó phân hủy (axit fulvic, humic, tannin). Vi sinh vật hiếu khí thông thường không thể sử dụng các hợp chất này làm cơ chất dinh dưỡng, bắt buộc phải dùng quá trình keo tụ hóa lý hoặc oxy hóa bậc cao (AOPs) để xử lý.

4. Chi phí hóa chất vận hành hàng tháng phân bổ ra sao?

Chi phí tập trung chủ yếu vào phèn nhôm $\text{Al}_2(\text{SO}_4)_3\cdot 18\text{H}_2\text{O}$ (chiếm $\sim 50%$), dung dịch $\text{NaOH } 10%$ để hiệu chỉnh pH sau keo tụ ($\sim 30%$), và chất trợ lắng Polymer Anion PAM ($\sim 20%$). Việc tối ưu hóa liều lượng châm theo tải trọng COD thực tế giúp tiết kiệm đáng kể chi phí.

5. Nâng cấp bổ sung Bể Anoxic có làm tăng diện tích mặt bằng trạm quá nhiều không?

Không. Bể Anoxic có thể thiết kế hợp khối tích hợp ngay trước cụm Aerotank hiện hữu hoặc ngăn một phần thể tích của bể oxy hóa số 1 làm vùng thiếu khí (chỉ lắp máy khuấy chìm, không sục khí), tiết kiệm tối đa diện tích xây dựng mới.


Kết luận

Đề tài đã hoàn thành xuất sắc việc đánh giá toàn diện hiệu quả xử lý nước rỉ rác tại BCL Nam Sơn - Sóc Sơn - Hà Nội:

  • Chứng minh hiệu quả vượt bậc của cụm oxy hóa hiếu khí 4 ngăn kết hợp keo tụ hóa lý trong việc loại bỏ $\text{BOD}_5$ ($91,15% - 94,66%$), $\text{COD}$ ($77,64% - 94,29%$) và $\text{NH}_4^+$ ($69,69% - 85,00%$).
  • Nhận diện chính xác điểm nghẽn kỹ thuật: Nồng độ Nitơ tổng ($\text{TN}$) đầu ra $100%$ không đạt chuẩn QCVN 25:2009/BTNMT Cột B1 do thiếu chu trình khử Nitrat thiếu khí.
  • Đề xuất giải pháp bổ sung bể Anoxic và công nghệ Fenton với các luận cứ hóa sinh học rõ ràng, mở ra hướng đi bền vững và tiết kiệm chi phí cho công tác xử lý nước rỉ rác tại các đô thị Việt Nam.