CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CÔNG VIỆC TRONG TỔ CHỨC 1. Công việc “Công việc là tổng hợp các nhiệm vụ, các trách nhiệm hay chức năng mà một người hay một nhóm người lao động phải đảm nhận trong tổ chức. Công việc chỉ rõ những chức năng nhiệm vụ của tổ chức mà một người hay một nhóm người lao động phải thực hiện. Đồng thời, công việc là cơ sở để phân chia các chức năng, quyền hạn và trách nhiệm cho từng người, từng nhóm người trong cùng một tổ chức.
Việc tạo thành các công việc là kết quả của sự phân công lao động trong nội bộ các tổ chức. Công việc có thể xem như là một đơn vị mang tính tổ chức nhỏ nhất trong một tổ chức và nó có những chức năng quan trọng. Công việc là cơ sở để tổ chức thực hiện các chức năng quản lý con người, phân định vai trò của từng cá nhân trong tổ chức, cũng như phân phối tiền lương, tạo sự thỏa mãn cho người lao động. Công việc là một yếu tố động đối với các tổ chức, tên công việc như nhau những có thể nhiệm vụ của công việc đó trong mỗi tổ chức là khác nhau.
Nhiều khi công việc là một vị trí trong tổ chức và công việc đó có thể bao chùm một nghề. Thực hiện công việc “Thực hiện công việc là quá trình một hoặc một nhóm người lao động nhận các nhiệm vụ từ phía người quản lý và thực hiện nó hướng tới mục tiêu cần hoàn thành đã được thống nhất từ trước” (Nguyễn Thị Hồng, 2020). Thực hiện công việc chính là phương tiện để người lao động có thể đóng góp sức mình vào thực hiện các mục tiêu của tổ chức. Việc thực hiện công việc phải 10 dựa trên kết quả của quá trình phân tích công việc, đó là ba tài liệu: Bản mô tả công việc, bản yêu cầu đối với người thực hiện công việc và bản tiêu chuẩn thực hiện công việc.
Những tài liệu này sẽ giúp cho người lao động định hình được công việc họ cần phải làm và các yêu cầu thực hiện công việc, nhờ đó người lao động sẽ hiểu rõ công việc của mình, nắm vững nhiệm vụ, quyền hạn của bản thân trong công việc, thấy rõ vị trí của bản thân trong tổ chức, hiểu được kỳ vọng của tổ chức đối với mình; Bản thân người lao động cũng có được những tiêu chuẩn và mục đích rõ ràng để hướng đến, đóng góp công sức vào thực hiện thành công các mục tiêu của tổ chức. Đánh giá thực hiện công việc ĐG THCV được hiểu là một khâu quan trọng trong QT THCV và là một quá trình tuần hoàn lặp lại của mỗi chu kỳ quản trị. Theo đó, đầu kỳ người quản lý cần hỗ trợ nhân viên thiết lập mục tiêu công việc trên cơ sở các văn bản, dữ liệu về mục tiêu tổ chức, mô tả công việc, tiêu chuẩn thực hiện công việc, chỉ số đánh giá hiệu quả thực hiện công việc. Trong kỳ, người quản lý cần theo dõi, quản lý, khích lệ hoặc đôn đốc, kiểm soát, nhận xét, góp ý và hỗ trợ người lao động nhằm hướng tới kết quả làm việc tốt cho cả cá nhân và tổ chức.
Cuối kỳ, quá trình ĐG THCV cần được triển khai trên cơ sở những dữ liệu thực tế về kết quả làm việc, mức độ nỗ lực làm việc của người lao động đã được theo dõi trong quản lý quá trình THCV và mục tiêu, tiêu chí đã thống nhất ở đầu kỳ (Lê Thanh Hà, 2009). ĐG THCV là sự đánh giá có hệ thống và chính thức tình hình thực hiện công việc của người (nhóm người) lao động trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thỏa thuận về sự đánh giá đó với người lao động trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thỏa thuận về sự đánh giá đó với người lao động. Đây thực chất là việc so sánh tình hình thực hiện công việc của người (nhóm người) lao động so với yêu 11 cầu đề ra của tổ chức. Đánh giá thực hiện công việc được hiểu là sự đánh giá có hệ thống và chính thức tình hình thực hiện công việc của người (nhóm người) trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và trao đổi về sự đánh giá đó với người lao động.
ĐG THCV thực chất là việc so sánh tình hình thực hiện công việc của chính người (nhóm người) lao động với yêu cầu đề ra của tổ chức. Quản lý thực hiện công việc và đánh giá thực hiện công việc có thể được phân biệt thông qua phạm vi, mục đích tiếp cận hay thời điểm, thời gian như đề cập trong bảng 1. Trên thực tế, trong quá trình thực hiện quản trị nguồn nhân lực có thể các nhà quản trị có cách sử dụng thuật ngữ khác nhau nhưng có thể nội hàm của thuật ngữ hay vấn đề họ đề cập lại giống nhau. So sánh Quản trị thực hiện công việc và Đánh giá thực hiện công việc Tiêu chí Quản trị thực hiện công việc Đánh giá thực hiện công việc Phạm vi Rộng hơn Hẹp hơn Xây dựng, thống nhất mục tiêu, cam Thống kê kết quả, hành vi thực hiện kết chỉ tiêu phấn đầu công việc Nội dung Theo dõi, hỗ trợ và giải quyết các Đánh giá tình hình thực hiện công tập trung vấn đề phát sinh trong thực hiện việc vào công việc Thảo luận, phản hồi về kết quả và Kiểm soát, đo lường và đánh giá kết sử dụng kết quả đánh giá quả thực hiện công việc Ghi nhận kết quả công tác trong kỳ Cải thiện kết quả thực hiện công việc Mục đích và tìm kiếm giải pháp cải thiện hiệu Cải thiện liên tục suất công tác kỳ tiếp theo Tầm nhìn Xa hơn, rộng hơn Gần hơn (sự kiện), hẹp hơn Quá trình (quản lý theo chu kỳ) Thời điểm (trong chu kỳ) Thời gian Hướng cải thiện trong tương lai Tập trung vào kết quả trong quá khứ Nguồn: Nguyễn Thị Hồng (2020), Giáo trình Quản lý thực hiện công việc, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội.
12 Như vậy, dù có nhiều cách hiểu về đánh giá thực hiện công việc theo đó phạm vi và nội dung hoạt động đánh giá có thể rộng hoặc hẹp hơn. Tuy nhiên, thuật ngữ đánh giá thực hiện công việc nên được hiểu là một khâu quan trọng trong quản lý thực hiện công việc. ĐG THCV cần được thực hiện trên cơ sở phương pháp đánh giá và hệ thống biểu mẫu phục vụ đánh giá đã được chuẩn hoá, đồng bộ hoá. Sau khi có kết quả đánh giá, tuỳ vào từng kết quả, từng tình huống, người quản lý cần tiến hành trao đổi thông tin với nhân viên của mình nhằm thống nhất về kết quả cũng như giải pháp cho một kết quả tốt hơn ở kỳ sau.
Hoạt động trao đổi thông tin này có thể được gọi là phỏng vấn đánh giá hoặc thông tin ngược trong QT THCV. Kết quả đánh giá sau khi đã thống nhất sẽ được cập nhật thông tin nhân sự hoặc sử dụng làm cơ sở cho các hoạt động QTNL tiếp theo. Đó có thể là căn cứ để trả lương theo kết quả THCV, là căn cứ phân tích và xác định nhu cầu đào tạo, là căn cứ cho một quá trình đề bạt, thăng tiến và nhiều hoạt động khác trong công tác QTNL. Nội dung của đánh giá thực hiện công việc 1.
Xác định mục tiêu đánh giá và thiết kế phương pháp trong đánh giá 1. Xác định mục tiêu đánh giá Xác định mục tiêu đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu trong thực tế quản trị doanh nghiệp cũng như vận hành công việc của mỗi đơn vị, bộ phận, cá nhân. Tùy thuộc và mục tiêu đánh giá mà có thể lựa chọn phương pháp đánh giá phù hợp. Việc xác định mục tiêu được xác định cho tập thể người lao động và cá nhân người lao động (Lê Thanh Hà, 2012).
Mục tiêu của việc đánh giá tình hình thực hiện công việc của tập thể lao động gồm: - Giúp cho tập thể lao động biết được mức độ thực hiện công việc của họ trong mối tương quan với tập thể lao động khác. - Giúp cho tập thể lao động nhận biết được những nhược điểm của đơn 13 vị từ đó tìm được biện pháp khắc phục. - Tạo được sự đoàn kết trong tập thể lao động, kích thích động lực lao động chung, tinh thần thi đua với các đơn vị khác và sự phối hợp trong công việc để cùng phấn đấu đạt được thứ hạng cao trong đánh giá. Việc đánh giá tình hình thực hiện công việc của cá nhân người lao động có thể quy về hai mục tiêu cơ bản: - Đánh giá tình hình thực hiện công việc nhằm cải thiện sự thực hiện công việc của người lao động.
- Đánh giá tình hình thực hiện công việc nhằm thực hiện mục tiêu giúp cho những nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định nhân sự đúng đắn. Quá trình này giúp cho nhà quản lý phát hiện những tài năng làm cơ sở để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo phát triển các nhân viên có tài năng này trở thành những cán bộ chủ chốt trong tương lại… Ngoài hai mục tiêu cơ bản nói trên, tập thể có thể đặt thêm mục tiêu kích thích nhân viên và tạo bầu không khí thuận lợi trong tập thể lao động. Thiết kế phương pháp đánh giá - Phương pháp thang đo đánh giá đồ họa: Đây là phương pháp đánh giá thực hiện công việc của người lao động căn cứ theo nội dung, tiêu chí đánh giá chung đối với người lao động về khối lượng, chất lượng, hành vi, tác phong và triển vọng của họ. Với mỗi nội dung, tiêu chí đánh giá thực hiện công việc được lựa chọn, người ta đưa ra các mức điểm khác nhau được sắp xếp theo một thang đo từ thấp đến cao.
Khi tiến hành đánh giá, người đánh giá sẽ cho ý kiến đánh giá của mình dựa trên thang đo này (Lê Thanh Hà, 2012). - Phương pháp so sánh xếp hạng: Đây là nhóm các phương pháp mà theo đó những người được đánh giá, được sắp xếp theo thứ tự từ cao nhất đến thấp nhất cho mỗi đặc tính hay yếu tố. Các phương pháp này, đều có cùng bản 14 chất là đánh giá thực hiện công việc của người lao động dựa trên so sánh thực hiện công việc của họ so với những đồng nghiệp cùng làm việc trong bộ phận. Nhóm các phương pháp so sánh bao gồm 4 phương pháp chủ yếu: phương pháp xếp hạng, phương pháp phân phối bắt buộc, phương pháp cho điểm và phương pháp so sánh cặp (Lê Thanh Hà, 2012).