CHƯƠNG 1: GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG VÀ PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH 1.1 Chất lượng môi trường 1. Cảnh quan và giá trị cảnh quan Cảnh quan môi trường là một thuật ngữ dùng để nói một cách rộng rãi đến trạng thái môi trường tự nhiên. Khái niệm này bao gồm cả khái niệm về chất lượng môi trường xung quanh, và cũng bao hàm các khái niệm như chất lượng cảnh quan và chất lượng thẩm mỹ của môi trường. (Phạm Thị Hồng Nhung 2011) Như vậy, giá trị cảnh quan môi trường phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng môi trường.
Một giả thiết cơ bản là chất lượng môi trường được thể hiện ở chất lượng các dịch vụ giải trí mà môi trường cung cấp. Việc đánh giá chất lượng môi trường với đúng giá trị của nó có vai trò rất quan trọng. Đã một thời gian rất lâu, toàn xã hội nhìn nhận hàng hóa môi trường không đúng với giá trị thực của nó (tổng giá trị kinh tế TEV), giá trị đó đã bị coi thấp đi hay bị bỏ qua hoàn toàn. Chúng ta vẫn không được đo lường và không được lượng giá, vì thế việc khai thác không hiệu quả đã diễn ra trong một thời gian dài.
Đó là thất bại của thị trường. Các hàng hóa như sông, hồ, không khí sạch không được định giá vì chúng không được mua bán trên thị trường. Việc tính đúng, tính đủ giá trị của chất lượng môi trường sẽ mang lại hiệu quả rất lớn không những về giá trị kinh tế mà còn về giá trị môi trường, giúp cho việc phục hồi, tăng trưởng và bảo tồn chất lượng tài nguyên thiên nhiên tự nhiên và các hệ sinh thái. Khái niệm về chất lượng môi trường Chất lượng môi trường là sự cân bằng của tự nhiên, bao gồm động vật, thực vật, tài nguyên thiên nhiên và các vật thể do con người tìm ra, phục vụ sự 2 tồn tại của nhân loại, sự sống còn của loài người và tự nhiên (Nguyễn Thế Chinh, 2003).
Nói cách khác, chất lượng môi trường là khả năng tương đối của của một môi trường có thể thoả mãn nhu cầu và mong muốn của một cá nhân hay toàn xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, mọi quan hệ đều được tiền tệ hóa, đều được coi như hàng hóa. Và người ta cho rằng chất lượng môi trường cũng là một loại hàng hóa, được gọi là hàng hóa chất lượng môi trường. Trong thực tế loại hàng hóa này đã được sử dụng trong việc mua bán, trao đổi trên thị trường dưới hình thức này hoặc hình thức khác.
Tuy nhiên hầu hết các hàng hóa môi trường vẫn không được tính giá hoặc chúng được định giá không hợp lý. Chất lượng của không khí chúng ta thở, của nước chúng ta uống, của sông hồ mà chúng ta đến giải trí. đều ảnh hưởng tới tình trạng sức khoẻ và tinh thần của chúng ta, nhưng chúng lại không có trên thị trường. Vậy giá trị kinh tế của chất lượng môi trường là gì và được tính toán như thế nào? 1.
Giá trị kinh tế của chất lượng môi trường Khái niệm tổng giá trị kinh tế (Total Economic Values) ra đời vào những năm 1980, được xây dựng trên cơ sở nhìn nhận một cách toàn diện về giá trị hàng hóa môi trường. Sự nhìn nhận đó không chỉ bao gồm những giá trị trực tiếp có thể lượng hóa được mà còn có cả những giá trị gián tiếp- những giá trị ẩn khó nhìn thấy nhưng lại rất có ý nghĩa về mặt kinh tế xã hội. Một khu rừng có thể đồng thời cung cấp gỗ cho những người tiều phu, dịch vụ sinh thái cho cộng đồng địa phương, lọc nước cho các nhà máy thủy điện, các nguồn gen cho các công ty dược phẩm đa quốc gia và là nơi hấp thụ cácbon cho phát thải CO 2 toàn cầu. Như vậy, tổng của tất cả các loại giá trị liên quan đến một tài nguyên thì được gọi là tổng giá trị kinh tế (TEV).
Các nhà khoa học đã phân tích TEV theo nhiều cách khác nhau. 3 Callan (2000) cho rằng: Tổng giá trị kinh tế = Giá trị sử dụng + Giá trị tồn tại (Trực tiếp và gián tiếp) (tiêu dùng của người khác và giữ gìn cho thế hệ tương lai) Theo Tom Tietenberg : TEV = UV+ OV+ NUV Trong đó: UV: giá trị sử dụng OV: giá trị tùy chọn NUV: là giá trị không sử dụng Như vậy, các nhà kinh tế học môi trường đã làm được rất nhiều khi phân loại giá trị kinh tế trong mối quan hệ của chúng với môi trường thiên nhiên. Tuy vấn đề thuật ngữ vẫn chưa thống nhất hoàn toàn, nhưng nhìn chung họ đều dựa trên cơ sở mối tương tác giữa con người (người định ra giá trị) và môi trường (vật được định giá). Theo nguyên tắc để đo lường TEV các nhà kinh tế học bắt đầu bằng việc phân biệt giữa giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng, và TEV đã được khái quát hóa bằng công thức sau: TEV= UV+ NUV = (DUV+IUV+OV) + (BV + EXV) TEV UV NUV DUV IUV OV BV EXV Hình 1.1 Sơ đồ TEV Nguồn: Nguyễn thế Chinh (2003) Trong đó: TEV (Total economic values) : tổng giá trị kinh tế UV (Use values) : giá trị sử dụng 4 DUV (Direct use values): giá trị sử dụng trực tiếp IDV (Indirect use values): giá trị sử dụng gián tiếp OV (Option values) : giá trị tùy chọn NUV (Nonuse values) : giá trị không sử dụng BV (Bequest values) : giá trị tùy thuộc hay giá trị để lại EXV (Existence values) : giá trị tồn tại Sự phân biệt đầu tiên và quan trọng nhất là đó là giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng (giá trị phi sử dụng).
Giá trị sử dụng: là những giá trị bắt nguồn từ lợi ích của xã hội do sử dụng hoặc có tiềm năng sử dụng một tài nguyên môi trường nhất định hay các dịch vụ nào đó. Nói cách khác, giá trị sử dụng được hình thành từ việc thực sự sử dụng môi trường. Trên thực tế nó bao gồm: Giá trị sử dụng trực tiếp: là các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trực tiếp cung cấp mà chúng ta có thể tính được về giá cả và khối lượng trên thị trường, một cá nhân có thể trực tiếp thưởng thức nguồn tài nguyên bằng cách tiêu dùng nó (ví dụ: chặt gỗ để đốt hay câu cá để ăn.) hoặc bằng cách tăng lợi ích từ bản thân thị trường tài nguyên (ví dụ: giá trị cảnh quan của một công viên). Giá trị sử dụng gián tiếp: Là những giá trị chủ yếu dựa trên chức năng của hệ sinh thái, có ý nghĩa về mặt sinh thái và môi trường, hay nói cách khác đây là chức năng môi trường cơ bản gián tiếp hỗ trợ cho hoạt động kinh tế và lợi ích của mọi người.
Ví dụ: một khu rừng bảo vệ lưu vực sông hay tầng ozone bảo vệ Trái đất khỏi tia cực tím. Tuy nhiên, sự khác nhau giữa giá trị sử dụng trực tiếp và gián tiếp không phải lúc nào cũng rõ ràng. Giá trị tùy chọn: là lượng mỗi cá nhân sẵn sàng chi trả để bảo tồn nguồn lực hoặc một phần sử dụng nguồn lực đó, để sự dụng cho tương lai. Đây là giá trị do nhận thức, lựa chọn của con người đặt ra trong hệ sinh thái.
Giá trị này không có tính thống nhất chung và cũng phải được định về mặt 5 tiền tệ theo tính chất lựa chọn của nó. Ví dụ, bảo tồn một khu vực tự nhiên là một lựa chọn, cho chúng ta khả năng biến đổi khu vực đó trong tương lai hoặc giữ lại nó, dựa vào những thông tin được thu thập về giá trị tương đối của khu vực tự nhiên. Giá trị phi sử dụng: thể hiện các giá trị phi phương tiện nằm trong bản chất của sự vật, không liên quan đến việc sử dụng thưc tế hoặc thậm chí việc lựa chọn sự vật này. Tuy nhiên thay vào đó, những giá trị này thường liên quan nhiều về lợi ích của con người.
Giá trị phi sử dụng bao gồm: Giá trị tùy thuộc (giá trị để lại): phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong một hàm nhiều biến và có thể có sự thay đổi trên cơ sở phát triển của khoa học cũng như nhận thức của con người. Một số người biệt hóa giá trị tùy thuộc là giá trị của việc để lại các giá trị sử dụng và phi sử dụng cho thế hệ sau này. Những người khác đưa cả giá trị tùy chọn và giá trị tồn tại vào trong dạng giá trị này. Giá trị tồn tại: Xuất phát từ nhận thức của con người về tài nguyên và môi trường mà người ta cho rằng sự tồn tại của một cá thể hay một giống loài nào đó có ý nghĩa về mặt kinh tế không chỉ trước mắt mà kể cả lâu dài, buộc người ta phải duy trì giống loài đó bằng mọi giá.
Trong việc tính toán giá trị này thì việc xác lập nhận thức về mặt giá trị rất dễ dàng. Dưới đây là một ví dụ về tổng giá trị kinh tế của một khu rừng nhiệt đới, từ đó giúp chúng ta hình dung rõ hơn về các thành phần của TEV: Giá trị sử dụng trực tiếp: là gỗ , củi, hoa quả và du lịch sinh thái. Giá trị sử dụng gián tiếp: là các dịch vụ của hệ sinh thái, ngắm chim, bảo vệ đất, hấp thụ các bon Giá trị tùy chọn: là các dược phẩm Giá trị tồn tại: là thưởng thức mà không cần quan tâm đến các chức năng của rừng 6 Giá trị tùy thuộc: là lợi ích từ gỗ và giá trị để lại cho thế hệ sau Như vậy trong giá trị của một hệ sinh thái, ngoài những giá trị trực tiếp và các giá trị gián tiếp có thể nhìn thấy thì đối với giá trị tùy chọn, giá trị tùy thuộc và giá trị tồn tại đòi hỏi chúng ta phải có những cách nhìn nhận hết sức nhạy cảm và linh hoạt, phụ thuộc vào ý nghĩa của những giá trị này đối với con người, đối với hoạt động kinh tế. Đó là lý do các nhà kinh tế học môi trường không ngừng hoàn thiện về phương pháp luận và phương pháp tiếp cận để nhìn nhận một cách toàn diện về tổng giá trị kinh tế của một khu rừng, một hệ sinh thái, từ đó tư vấn chính xác cho các nhà hoạch định chính sách phương án sử dụng hợp lý.
Định giá giá trị môi trường 1. Sự cần thiết phải định giá giá trị môi trường Định giá môi trường là việc sử dụng các công cụ kỹ thuật nhằm lượng hóa giá trị bằng tiền của các hàng hóa chất lượng môi trường để làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách về khai thác, sử dụng và quản lý các hàng hóa môi trường.