Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự 1. Khái niệm đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự do xác lập, thực hiện, định đoạt các hành vi không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội để phục vụ cho nhu cầu, sở thích của mình, quyền và lợi ích của người khác. Vì lý do nào đó mà các chủ thể trên không thể tự mình thực hiện được một phần hoặc tất cả công việc thì có thể ủy quyền cho người khác làm thay.
Khi bên ủy quyền và bên được ủy quyền xác lập một quan hệ ủy quyền, tức là đã xác lập sự thỏa thuận giữa các bên (có thể có thù lao hoặc không có thù lao), theo đó bên được ủy quyền được quyền thay mặt và nhân danh bên ủy quyền thực hiện một số hành vi nhất định trong phạm vi ủy quyền, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến quyền lợi của bên ủy quyền hoặc của bên thứ ba liên quan. Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể ủy quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Tuy nhiên không phải mọi cá nhân đều có thể làm người đại diện theo ủy quyền, Điề u 143 BLDS 2005 quy đinh ̣ “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện”. Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện thông qua hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền.
Người đại diện theo ủy quyền có quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do người được đại diện xác lập, thực hiện trong 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phạm vi thẩm quyền đại diện. Giao dịch dân sự do người đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện vượt quá thẩm quyền đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp được người đó chấp thuận. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản [26, tr. Khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước bị xâm phạm thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền làm đơn khởi kiện hoặc làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người khởi kiện; người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khởi kiện; cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước; người có đơn yêu cầu Tòa án công nhận quyền hoặc công nhận sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động; người bị kiện; người tuy không khởi kiện, không bị kiện, không có đơn yêu cầu nhưng việc giải quyết tại Tòa án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ được gọi là đương sự. Quá trình giải quyết tại Tòa án các tranh chấp, yêu cầu phát sinh trong lĩnh vực tư bao gồm: dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh – thương mại, lao động được gọi là tố tụng dân sự. Theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh: "tố tụng" là việc thưa kiện (procès), "tố tụng pháp lý" là việc pháp luật quy định những thủ tục về cách tố tụng (code deprocédure)" (Trường Thi xuất bản, Sài Gòn, 1957, tr. Thời Pháp thuộc, người ta dùng hai chữ "tố tụng" để dịch chữ "procédure" (chữ Pháp procédure hay chữ Anh procedure đều bắt nguồn từ chữ La tinh processus nghĩa là quá trình, trình tự, thủ tục).
Theo cuốn Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp thì tố tụng dân sự là trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét giải quyết vụ án và thi hành án dân sự [26, tr. Được ghép từ danh từ “tố tụng” là kiện thưa tại tòa án nói chung, nó gợi nên một cách thức cần thiết phải thực hiện để đạt được mục đích, và danh từ “dân sự” – civil đôi khi 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được dùng tương đồng với danh từ prive – lĩnh vực luật tư, bởi bản chất thỏa thuận, bình đẳng của các bên trong việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ. Mặc dù đều dùng để chỉ định một cách thức tiến hành bắt buộc nhưng danh từ “thủ tục” bao hàm nghĩa rộng hơn trên nhiều mặt, vượt ra ngoài nghĩa của trình tự giải quyết vụ việc tại tòa án (như thủ tục nhập học, thủ tục đi xuất khẩu lao động…). Trong một thời gian dài của quá trình phát triển, danh từ thủ tục đã được sử dụng thay cho danh từ tố tụng như: Thủ tục giải quyết vụ án dân sự, Thủ tục giải quyết vụ án kinh tế hay Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động… đã không thể hiện rõ được bản chất của hoạt động tư pháp.
Việc sử dụng cụm từ tố tụng dân sự là sát nghĩa và có tính chất triệt để hơn cả trong giai đoạn hiện nay, nó được hiểu dưới góc độ pháp lý là một ngành luật tố tụng cụ thể, còn dưới góc độ thực tiễn là những cách thức thực tiễn do các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng tiến hành. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại Tòa án trong quá trình giải quyết các vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự, các đương sự có thể tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng do pháp luật quy định. Tuy nhiên trong thực tiễn, không phải trong mọi trường hợp đương sự đều có thể tự mình tham gia tố tụng để thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho mình hoặc cho bên thứ ba. Có thể có nhiều lý do khác nhau: Do hạn chế về trình độ pháp lý, do không hoặc ít có kinh nghiệm tham gia tố tụng, do điều kiện khó khăn về khoảng cách địa lí, do già yếu, ốm đau hoặc do hạn chế về thời gian v.mà đương sự không thể tự mình tham gia tố tụng tại Tòa án được, việc thực hiện một phần hoặc toàn bộ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ thông qua người đại diện.
Người đại diện của đương sự là người tham gia tố tụng thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự trước Tòa án [1, tr. Đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm đại diện theo pháp luật và đại 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com diện theo ủy quyền. Đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự được xác lập trên cơ sở thỏa thuận giữa bên ủy quyền và bên đại diện theo ủy quyền dưới hình thức văn bản ủy quyền, đó cũng là cơ sở để bên đại diện tham gia tố tụng dân sự nhân danh và bảo vệ quyền lợi cho bên đương sự đã ủy quyền. Trên cơ sở kế thừa và phát triển các công trình nghiên cứu trước đây, dựa trên các khái niệm đại diện theo ủy quyền trong dân sự, tố tụng dân sự, đương sự trong tố tụng dân sự, có thể đưa ra khái niệm đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự như sau: Đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa bên đại diện và bên được đại diện thông qua văn bản ủy quyền, theo đó bên đại diện nhân danh và vì quyền lợi của bên được đại diện thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng trong phạm vi ủy quyền để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bên được đại diện.
Đặc điểm của đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự - Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng dân sự trên cơ sở quan hệ ủy quyền: Khác với quan hệ đại diện theo pháp luật là loại đại diện bắt buộc phải có do người đươ ̣c đa ̣i diê ̣n là người chưa thành niên , người bị hạn chế hoặc mấ t năng lựa hà nh vi dân sự, quan hê ̣ đa ̣i diê ̣n theo ủy quyề n đươ ̣c hình thành trên cơ sở thỏa thuâ ̣n , thể hiê ̣n ý chí giữa bên ủy quyền và bên đại diện theo ủy quyền. Khi đương sự không thể hoặc không muốn tham gia tố tụng dân sự thì có thể ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Quan hệ ủy quyề n là cơ sở để người đại diện theo ủy quyền của đương sự tham gia vào quan hệ tố tụng, có thể dựa trên quan hệ họ hàng, quen biết, tin tưởng, cũng có thể dựa trên cơ sở hợp đồng có thù lao. Việc đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự luôn tồn tại hai quan hệ: Quan hệ giữa bên đại diện theo ủy quyền với bên được đại diện, trong đó quyền và nghĩa vụ của các bên dựa trên 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nội dung và phạm vi ủy quyền, và quan hệ giữa bên đại diện theo ủy quyền với người thứ ba khác.
Trong quan hệ thứ nhất, người đại diện theo ủy quyền được trao quyền thực hiện một hoặc một số hành vi tố tụng nhất định trong phạm vi và nội dung ủy quyền, nhân danh và thực hiện công việc vì lợi ích của bên ủy quyền hoặc của người thứ ba liên quan. Quan hệ thứ hai là quan hệ bình đẳng giữa các đương sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, mặc dù người đại diện theo ủy quyền không phải là mô ṭ bên đương sự của vụ việc đang giải quyế t. Trong tố tụng dân sự, quan hệ giữa các đương sự là bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; do người đại diện theo ủy quyền có các quyền và nghĩa vụ tố tụng như chính đương sự được đại diện, vì vậy quan hệ giữa người đại diện theo ủy quyền với bên thứ ba khác là quan hệ bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.