Đặt vấn đề ở mức như vậy sẽ là đúng đắn, hợp lý vì như Lênin đã nói: “Sở dĩ cách mạng của chúng ta đạt được những thành tích như ngày nay chính là vì có cơ sở, có chính quyền. chúng ta phải chú ý thường xuyên đến kinh nghiệm ở cơ sở”. Chức năng, nhiệm vụ của Ban Tƣ pháp, cán bộ Tƣ pháp - hộ tịch cấp xã. Chức năng, nhiệm vụ của Ban Tư pháp.
Xuất phát từ vị trí, vai trò của Ban Tư pháp, hiện nay cơ sở pháp lý quy định chức năng, nhiệm vụ của Ban Tư pháp được quy định tại Nghị định số 38/CP ngày 04/6/1993 của Chính phủ và Thông tư liên Bộ số 12-TTLB ngày 26/7/1993 của Bộ Tư pháp - Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ và ngày càng mở rộng hơn theo quy định tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch; Quyết định số 69/1998/QĐ-TTg ngày 31/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ về phát hành Công báo nước CHXHCN Việt Nam; Pháp lệnh số 09/1998/PL-UBTVQH10 ngày 25/12/1998; Điều 117 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân; Điều 658, 659 Bộ luật Dân sự; Nghị định 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, 21 chứng thực chữ ký; Nghị định 114/2003/NĐ-CP và Nghị định số 121/2003/NĐ-CP cùng ngày 21/10/2003 và cán bộ công chức xã, phường và chính sách chế độ đối với đội ngũ này; Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về tiêu chuẩn đối với cán bộ công chức xã, phường, thị trấn; Điều 22, 23, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 84 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính; Điều 264, 266 Bộ luật Tố tụng hình sự; Pháp lệnh Thi hành án dân sự. Trong lĩnh vực hành chính - tư pháp và quản lý nhà nước về công tác tư pháp ở cơ sở, Ban Tư pháp giúp Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn thực hiện chức năng, nhiệm vụ sau đây: + Giúp Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn thực hiện quản lý nhà nước về các công việc tư pháp; + Giúp Uỷ ban nhân dân soạn thảo, ban hành các quyết định, chỉ thị và tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó; + Tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân, tổ chức thực hiện các biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; + Quản lý tủ sách pháp luật và hàng ngày tổ chức phục vụ cho cán bộ, nhân dân có nhu cầu nghiên cứu trực tiếp đọc những văn bản pháp luật của Nhà nước; + Tổ chức thực hiện hoặc phối hợp thực hiện với các cơ quan chức năng trong việc thi hành án; tham mưu UBND cấp xã quyết định biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người nhiều lần có hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh; 22 + Tổ chức và hướng dẫn hoạt động của các tổ hoà giải, kịp thời giải quyết các vi phạm pháp luật và các tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật; + Tổ chức việc đăng ký, quản lý hộ tịch theo quy định của pháp luật; + Thực hiện một số việc về chứng thực như: Chứng thực di chúc, chứng thực việc từ chối nhận di sản, chứng thực các việc khác theo quy định của pháp luật. Có thể thấy rằng những công việc cụ thể này, theo yêu cầu của công tác quản lý nhà nước ở cấp cơ sở thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thi hành đầy đủ, đúng pháp luật. Khi tiến hành thực hiện các công việc được giao phải làm đúng trình tự, thủ tục và phải có chuyên môn, nghiệp vụ, muốn vậy UBND cơ sở phải dựa vào cơ quan chuyên môn.
Trong các trường hợp này Ban Tư pháp vừa có trách nhiệm là cơ quan chuyên môn để giúp UBND thi hành pháp luật về lĩnh vực tư pháp ở cơ sở, vừa có vai trò đại diện cho ngành Tư pháp, đặt cơ sở để “đảm bảo sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ Trung ương đến cơ sở”. Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ Tư pháp - hộ tịch cấp xã Lý luận cũng như thực tiễn đã khẳng định, cán bộ và công tác cán bộ luôn giữ vai trò quyết định trong một thời kỳ cách mạng. Lênin đã chỉ rõ: Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào. Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “cán bộ là cái gốc của mọi việc” và “công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”.
Ngay từ khi ra đời cũng như trong suốt quá trình lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt 23 Nam, Đảng ta luôn coi việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ ngang tầm với nhiệm vụ là khâu then chốt, có ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước đã xác định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”. 66] Hơn nửa thế kỷ qua, đội ngũ cán bộ, công chức của Nhà nước ta đã không ngừng được củng cố và phát triển, trong đó, đội ngũ cán bộ cơ sở đã khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong việc “đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ chúng, để đặt chính sách cho đúng”.
Đội ngũ cán bộ cơ sở là những người trực tiếp đưa chủ trương, đường lối, chính sách cho Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Thực tiễn cho thấy, không có đội ngũ cán bộ cơ sở tốt thì dù chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có đầy đủ và đúng cũng khó có thể đi vào cuộc sống. Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ cách mạng mới, ngày 21/10/2003 Chính phủ ban hành hai nghị định là Nghị định số 114/2003/NĐ-CP và Nghị định số 121/3003/NĐ-CP quy định về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và chế độ chính sách đối với đội ngũ này. Với vị trí là một bộ phận của đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở, cán bộ Tư pháp - hộ tịch cấp xã phải đảm nhiệm một khối lượng công việc lớn và không ngừng gia tăng để góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự, kỷ cương xã hội, trong đó phần lớn là các hoạt động chỉ phát sinh từ địa hạt cơ sở hoặc chỉ được tiến hành tại cấp cơ sở.
Trong giai đoạn hiện nay, khi việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và mở rộng hình thức dân chủ trực tiếp ở cơ sở đang là mối 24 quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước, vị trí quan trọng của đội ngũ cán bộ Tư pháp - hộ tịch cấp xã không chỉ được khẳng định trong bộ máy chính quyền mà còn được khẳng định trong toàn bộ hệ thống chính trị ở cơ sở. Trước tình hình trên, Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở đã khẳng định đội ngũ cán bộ Tư pháp - hộ tịch cấp xã là một bộ phận quan trọng, cán bộ chuyên trách được UBND tuyển chọn, có chế độ làm việc và chính sách về cơ bản như cán bộ, công chức nhà nước. Trong hệ thống tổ chức ngành Tư pháp, Ban Tư pháp là cấp cơ sở, bảo đảm sự quản lý thống nhất công tác tư pháp từ Trung ương tới cơ sở. Ngay từ khi cách mạng tháng Tám (1945) thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Ban Tư pháp và đội ngũ cán bộ Tư pháp - hộ tịch cấp xã không chỉ là một bộ phận cấu thành của chính quyền cơ sở mà đồng thời còn là một mắt xích không thể thiếu được của ngành Tư pháp.
Kể từ đó đến nay, dù trong thời chiến hay thời bình, dù cơ quan tư pháp cấp trên có lúc không tồn tại, cơ cấu của bộ máy hành chính cấp xã có khi thay đổi nhưng đội ngũ cán bộ Tư pháp - hộ tịch cấp xã vẫn luôn tồn tại, phát triển và khẳng định vị trí vai trò của mình trong quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Theo quy định tại Nghị định 38/CP ngày 04/6/1993, Nghị định 114/2003/NĐ-CP; 121/2003/NĐ-/CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ và Thông tư liên Bộ số 12/TTLB ngày 26/7/1993 của Bộ Tư pháp và Ban Tổ chức - cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ); Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và các văn bản pháp luật hiện hành quy định về tổ chức và hoạt động của Ban Tư pháp, đội ngũ cán bộ Tư pháp - hộ tịch cấp xã có trách nhiệm tổ chức triển khai phương hướng, chương trình, kế hoạch công tác của cơ quan tư pháp cấp trên. Đồng thời Ban Tư pháp là đầu mối tiếp nhận các chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước để tổ chức thực hiện 25 và đưa pháp luật đến với người dân. Đây là cấp cơ sở, gần dân nhất, trực tiếp thực hiện công tác tư pháp, độ ngũ cán bộ này mạnh hay yếu có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của toàn ngành Tư pháp.