Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẤP DƯỠNG SAU LY HÔN 1. Khái niệm cấp dưỡng và đặc điểm của quan hệ cấp dưỡng Cấp dưỡng là một thuật ngữ thể hiện việc một người chu cấp tiền bạc hoặc tài sản cho người có nhu cầu được nuôi dưỡng trên cơ sở giữa họ có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Quan hệ cấp dưỡng chỉ phát sinh giữa các chủ thể gắn bó với nhau bởi tình cảm gia đình. Do đó, quan hệ cấp dưỡng là quan hệ đặc trưng của pháp luật hôn nhân và gia đình.
Từ khi ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho đến nay, vấn đề hôn nhân và gia đình luôn là mối quan tâm Đảng và Nhà nước ta. Nhiều văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước về gia đình đã được ban hành trong những năm qua: Hiến pháp Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 cũng như trong các văn kiện của Đảng về chính sách xã hội đã nhấn mạnh đến vai trò của gia đình như là tế bào của xã hội và là nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển bền vững của xã hội Việt Nam. Quan điểm và chính sách này của Đảng và Nhà nước đã được thể chế hóa thành các quy định pháp luật, Điều 64 - Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (năm 1992) - văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình” [19, Điều 64].
Để cụ thể hoá quy định này của Hiến pháp, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, nhằm đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, phát huy truyền thống và những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, xoá bỏ những phong tục tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình như Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 41 - Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Gia đin ̀ h là mô ̣t hin ̀ h thức tổ chức đời số ng cô ̣ng đồ ng của con người , mô ̣t thiế t chế văn hóa – xã hội đặc thù , đươ ̣c hiǹ h thành, tồ n ta ̣i và phát triể n trên cơ sở của quan hê ̣ hôn nhân, quan hê ̣ huyế t thố ng, quan hê ̣ nuôi dưỡng và giáo dục. Chính vì vậy mà giữa các thành viên trong gia đình luôn có sự gắn bó chặt chẽ, sâu sắc về tình cảm và trách nhiệm đối với nhau. Để đảm bảo cho gia đình tồn tại và phát triển thì các thành viên trong gia đình phải quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau.
Khi Nhà nước và pháp luật xuất hiện, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật, trên cơ sở bảo vệ lợi ích chung của Nhà nước, của giai cấp cầm quyền. Sự chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình không chỉ là nhu cầu về đạo đức, mà còn là nghĩa vụ pháp lý được pháp luật quy định cụ thể, rõ ràng. Như vậy, chăm sóc, nuôi dưỡng lẫn nhau không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm của các thành viên trong gia đình, đặc biệt, cha mẹ phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, dạy dỗ con cái. Tuy nhiên, không phải lúc nào nghĩa vụ nuôi dưỡng cũng có thể thực hiện được.
Trong những hoàn cảnh nhất định, người có nghĩa vụ nuôi dưỡng có thể không có điều kiện thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng như khi họ phải đi công tác xa, bị bệnh nặng kéo dài, phải chấp hành hình phạt tù… Để đảm bảo cuộc sống bình thường của người được nuôi dưỡng, trong những trường hợp này, nghĩa vụ cấp dưỡng được đặt ra. Khái niệm cấp dưỡng không thay đổi từ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tại Khoản 11- Điều 8 - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, khoản 24 – Điều 3 – Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Từ quy định trên có thể hiểu: Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu. Đây là định nghĩa chính thức đầu tiên được ghi nhận trong đạo luật.
Mặc dù, ở nước ta quan hệ cấp dưỡng đã được đề cập đến từ khá lâu, từ thời kỳ phong kiến, Pháp thuộc đến khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa ra đời với các quy định về cấp dưỡng ngày càng cụ thể hơn, đa dạng hơn nhưng vẫn còn mang tính chung chung, khái quát. Đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, 2014 đã khắc phục được hạn chế này và là một bước tiến dài trong quá trình bổ sung, hoàn thiện chế định cấp dưỡng cả về cơ sở pháp lý và lý luận. Trước hết phải nói đến việc lần đầu tiên đưa ra khái niệm cấp dưỡng và sau đó là dành một chương riêng để quy định về các vấn đề liên qua đến cấp dưỡng. Điều này thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước ta và cho thấy tầm quan trọng của chế định này trong cuộc sống.
Khái niệm về cấp dưỡng đã nêu được những nội dung chủ yếu của quan hệ cấp dưỡng như: đối tượng được cấp dưỡng, điều kiện cấp dưỡng, mục đích của việc cấp dưỡng… Có thể nói đây là định nghĩa khá bao quát về cấp dưỡng dưới góc độ pháp lý. Từ khái niệm cấp dưỡng có thể thấy quan hệ cấp dưỡng có những đặc điểm cơ bản sau: - Quan hệ cấp dưỡng là một loại quan hệ pháp luật về tài sản gắn với nhân thân của mỗi bên trong quan hệ cấp dưỡng. Điều đó thể hiện ở chỗ: người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải chu cấp một số tiền hoặc tài sản nhất định nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu cho người được cấp dưỡng. Đây là quan hệ tài sản gắn liền với nhân thân của các bên trong quan hệ cấp dưỡng (bên có nghĩa vụ cấp dưỡng và bên được cấp dưỡng), vì vậy nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ không được chuyển giao cho người khác mà phải do chính người có nghĩa vụ thực hiện và việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cũng phải được thực hiện cho người có quyền được cấp dưỡng.
Điều này đã được quy định tại 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khoản 1 - Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 1 - Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác” [24, Điều 107]. Nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ được phát sinh khi các chủ thể trong quan hệ thỏa mãn những điều kiện nhất định. Khi nghĩa vụ này xuất hiện, người phải cấp dưỡng hay thậm chí người được cấp dưỡng không được đơn phương hoặc thỏa thuận việc thay thế nghĩa vụ cấp dưỡng bằng nghĩa vụ khác. Có nghĩa là bên có nghĩa vụ cấp dưỡng không thể cam kết sẽ dung nghĩa vụ khác để thay thế, bù trừ nghĩa vụ cấp dưỡng như là bồi thường thiệt hại hay phạt vi phạm; hoặc cũng không thể sử dụng chúng làm cơ sở đảm bảo cho những nghĩa vụ khác, đồng thời chủ thể trên cũng không thể chuyển giao nghĩa vụ này cho bất cứ ai.
Nếu như một người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho người khác thì phải tự mình thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng không thể chuyển giao nghĩa vụ cấp dưỡng của mình cho bên thứ ba thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thay cho mình, ngay cả người được cấp dưỡng cũng không được chuyển giao quyền của mình cho người khác vì nghĩa vụ cấp dưỡng gắn liền với nhân than của chủ thể trên cơ sở các mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng. Tính không thể chuyển giao và tính không thể thay thế của nghĩa vụ cấp dưỡng đã được ghi nhận tại Điều 381, 379 – Bộ luật Dân sự năm 2005 về việc không thể chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng bằng việc thay thế nghĩa vụ khác và không thể bù trừ nghĩa vụ trong trường hợp nghĩa vụ bù trừ là nghĩa vụ cấp dưỡng. Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự có thể chuyển giao quyền yêu cầu đó cho người thế quyền theo thỏa thuận, trừ những trường hợp sau đây: a. Quyền cấp dưỡng, quyền bồi thường thiệt hại…” [21, Điều 309].
- Quan hệ cấp dưỡng chỉ phát sinh giữa các thành viên trong gia đình trên cơ sở hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Luật Hôn nhân và gia đình 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năm 2000 quy định “Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa vợ chồng theo quy định của Luật này” [20, Điều 50, Khoản 1]. Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã xác định rõ phạm vi chủ thể của quan hệ cấp dưỡng đó là cấp dưỡng giữa cha mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà và cháu. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung thêm chủ thể của quan hệ cấp dưỡng đó là giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột tại Khoản 1 – Điều 107.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 mới chỉ quy định việc cấp dưỡng giữa những người có quan hệ đương nhiên về pháp luật, trong khi đó tập quán và truyền thống văn hóa, đạo đức của gia đình Việt Nam thường đề cao trách nhiệm của những người có quan hệ thân thích với nhau theo quan điểm: “sểnh cha còn chú, sểnh mẹ bú dì”. Đây là một điểm mới phù hợp với phong tục tập quán của người Việt Nam, đó là truyền thống tương thân tương ái của dân tộc ta và thực tiễn cuộc sống. Chính từ đặc điểm này mà quan hệ cấp dưỡng thường hình thành một cách tự nhiên trên cơ sở đạo đức và quan hệ ruột thịt giữa con người với nhau theo phong tục, tập quán. Sau đó quan hệ cấp dưỡng mới được điểu chỉnh bởi quy phạm pháp luật và trở thành quan hệ pháp luật.