Mở đầu Kết quả nghiên cứu Chƣơng I. Những vấn đề lý luận về căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng Chƣơng II. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng và thực tiễn áp dụng Chƣơng III. Những phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng Kết luận 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CĂN CỨ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CHUNG CỦA VỢ CHỒNG 1.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò sở hữu chung của vợ chồng Quan hệ sở hữu chung của vợ chồng là quan hệ xã hội khách quan. Khi có quan hệ hôn nhân, quan hệ vợ chồng thì cuộc sống chung của họ sẽ tạo ra những giá trị chung về vật chất và tinh thần và sở hữu tài sản chung khi đó là cơ sở vật chất cho đời sống chung của hai ngƣời, là điều kiện để họ thực hiện các chức năng xã hội của gia đình nhƣ sinh đẻ, giáo dục nuôi dƣỡng, thoả mãn những nhu cầu chung cũng nhƣ của cá nhân họ. Trong xã hội có nhà nƣớc và pháp luật, khi sở hữu là đối tƣợng lập pháp thì sở hữu cá nhân, sở hữu gia đình, sở hữu vợ chồng cũng là một đối tƣợng lập pháp quan trọng. Có thể nói, xã hội nào có hôn nhân, vợ chồng thì cũng đều tồn tại sở hữu chung của vợ chồng.
Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi giai đoạn phát triển, sự điều chỉnh pháp luật về sở hữu chung của vợ chồng có những đặc trƣng riêng. Ví dụ: có thời kỳ luật pháp chỉ thừa nhận quyền sở hữu của vợ, chồng, không có sở hữu tài sản, có thời kỳ vợ chồng đều có quyền sở hữu tài sản, và tài sản chung có thể xác lập theo pháp luật hoặc theo thỏa thuận…. Tuy nhiên, về bản chất, sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu của các thể nhân, chứ không phải là sở hữu của một pháp nhân. Do đó, sở hữu chung của vợ chồng trƣớc hết phản ánh tƣ tƣởng, quan điểm của các nhà làm luật cũng nhƣ xã hội về quyền sở hữu của cá nhân cũng nhƣ quyền tự do dân sự của các cá nhân thông qua việc ghi nhận và thể hiện sự tự thỏa thuận của các bên chủ thể.
Đây là một trong những quyền cơ bản của công dân hiện đã đƣợc cộng đồng quốc tế công nhận tại nhiều văn kiện quốc tế. Điều 17, Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế đã khẳng định “Mọi ngƣời đều có quyền sở hữu tài sản một mình hoặc sở hữu tài sản cùng với những 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣời khác”. Hiện nay, pháp luật các nƣớc trên thế giới cũng đều công nhận và bảo hộ quyền sở hữu của cá nhân trong các văn bản pháp luật của nƣớc mình. Ở Việt Nam, Điều 58 Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định “Công dân có quyền sở hữu….
Nhà nƣớc bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” [6]. Cụ thể hóa sự ghi nhận này, Điều 169 BLDS năm 2005 cũng khẳng định “Quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác đƣợc pháp luật công nhận và bảo vệ. Không ai có thể bị hạn chế, bị tƣớc đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình. Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kỳ ngƣời nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị ngƣời khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật” [10] Tùy từng thời điểm lịch sử và đặc điểm xã hội của từng nƣớc, quan điểm về quyền tự do cá nhân trong sở hữu lại đƣợc ghi nhận rộng hay hẹp khác nhau và đƣợc phản ánh một cách rõ nét trong sở hữu chung của vợ chồng thông qua mức độ công nhận quyền tự do thỏa thuận của các chủ thể trong sở hữu chung của vợ chồng.
Sự phản ánh này đƣợc thể hiện cơ bản qua ba khía cạnh lớn là sự ghi nhận của pháp luật về sự thoả thuận của các bên trong việc thiết lập, tạo dựng quan hệ sở hữu chung của vợ chồng cũng nhƣ trong việc xác định các tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng và thoả thuận của các bên trong việc thực hiện quyền sở hữu chung của vợ chồng. Trong việc thiết lập, tạo dựng quan hệ sở hữu chung của vợ chồng, nếu nhƣ trƣớc kia, với quan điểm và sự ghi nhận rất hạn chế của xã hội về quyền tự do cá nhân trong sở hữu cũng nhƣ quyền tự do dân sự cuả cá nhân, sự thoả thuận, thống nhất ý chí của hai bên chủ thể đã đƣợc ghi nhận rất hạn chế trong sở hữu chung của vợ chồng. Ví dụ dƣới thời kỳ phong kiến, quyền tự do cá nhân ít khi đƣợc nhắc đến nên sự thỏa thuận của các bên trong việc tạo lập quan hệ hôn nhân mà trên đó sở hữu chung của vợ chồng đƣợc thiết lập cũng không hề đƣợc quan tâm, chú ý đến. Mà yếu tố 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiên quyết lại chính là sự quyết định của hai bên dòng họ, gia đình.
Đến ngày nay, với sự ghi nhận và bảo đảm rất cao của quyền tự do cá nhân, sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên chủ thể trong việc tạo lập quan hệ hôn nhân hay quan hệ sở hữu chung của vợ chồng đƣợc coi là một yếu tố quyết định. Chính hai bên chủ thể chứ không phải ai khác là ngƣời trƣớc tiên tự quyết định có xác lập quan hệ hôn nhân với nhau hay không. Không ai có thể ép buộc hoặc dùng bất cứ một biện pháp nào, hình thức nào để bắt buộc hai bên xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp mà không có sự đồng ý của các chủ thể đó. Tƣơng tự nhƣ vậy, quan điểm về quyền tự do cá nhân cũng đƣợc phản ánh rất rõ nét qua sự công nhận thỏa thuận của hai bên vợ chồng trong việc xác định tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng cũng nhƣ việc thực hiện quyền sở hữu chung của vợ chồng.
Ngày nay, pháp luật của hầu hết các nƣớc trên thế giới cũng nhƣ Việt Nam đều cho phép các chủ thể về cơ bản có thể tự do thỏa thuận, bàn bạc và ủy quyền cho nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung hay nói cách khác là các bên có thể thỏa thuận về việc thực hiện quyền sở hữu chung của vợ chồng. Đồng thời, các bên cũng có thể thỏa thuận về tài sản chung của vợ chồng. Ví dụ Điều 1469 BLDS và Thƣơng Mại Thái Lan quy định “Khi vợ chồng không có sự thỏa thuận đặc biệt của họ về tài sản trƣớc khi kết hôn thì quan hệ tài sản giữa họ sẽ đƣợc điều chỉnh bởi những quy định của chƣơng này” [13] Nhƣ vậy, pháp luật sẽ chỉ can thiệp và chỉ quy định khi hai bên không có thỏa thuận về tài sản trƣớc khi kết hôn, nói cách khác sự tự thoả thuận của các bên về tài sản đƣợc coi là nền tảng, cơ sở đầu tiên trong việc xác định các tài sản chung của vợ chồng. Tóm lại, sở hữu chung của vợ chồng trƣớc hết luôn phản ánh tƣ tƣởng, quan điểm của xã hội về quyền tự do cá nhân trong sở hữu cũng nhƣ quyền tự do dân sự của cá nhân trong từng thời kỳ lịch sử và từng đặc điểm xã hội khác nhau.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bên cạnh đó, sở hữu chung của vợ chồng còn luôn gắn liền với sự xuất hiện của hôn nhân và gia đình, phục vụ các chức năng của gia đình. Trong khi đó chức năng của gia đình không chỉ bó gọn trong hai chủ thể thiết lập quan hệ vợ chồng đó mà còn có ảnh hƣởng lớn đến toàn xã hội. Gia đình với các chức năng xã hội của nó nhƣ thỏa mãn những lợi ích, nhu cầu của vợ chồng, chức năng sinh sản, nuôi dƣỡng giáo dục trẻ em, chức năng kinh tế, văn hóa, xã hội …. đã không còn là vấn đề của hai bên chủ thể xác lập quan hệ hôn nhân mà đã trở thành một vấn đề của cả xã hội, ảnh hƣởng tới toàn xã hội từ đó, gia đình đƣợc coi là một tế bào của xã hội là nền tảng của xã hội.
Chính vì vậy, sở hữu chung của vợ chồng không chỉ phản ánh quan điểm, tƣ tƣởng của xã hội về quyền tự do cá nhân, quyền tự do dân sự mà còn phản ánh quan điểm xã hội trong việc bảo đảm và duy trì sự ổn định, phát triển của xã hội thông qua quan điểm của xã hội về chức năng của gia đình. Điều này đƣợc thể hiện trƣớc hết qua việc pháp luật quy định về các điều kiện để xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp mà trên đó sở hữu chung của vợ chồng đƣợc tạo lập. Kể cả trong trƣờng hợp sự thỏa thuận, ý chí tạo dựng quan hệ hôn nhân hợp pháp của các bên đƣợc coi là yếu tố tiên quyết thì pháp luật vẫn có những quy định về các điều kiện để xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp mà các bên chủ thể phải tuân theo. Các điều kiện này, tùy từng thời điểm lịch sử, đặc điểm xã hội của mỗi nƣớc lại đƣợc quy định khác nhau và luôn phản ánh quan điểm của xã hội về chức năng của gia đình nhằm bảo vệ trật tự, sự ổn định và phát triển của chính xã hội đó.
Ví dụ, ở thời kỳ phong kiến, việc kết hôn với việc tạo lập nên gia đình đƣợc coi là để duy trì nòi giống, phát triển giòng họ nên sự đồng ý, xác nhận của hai bên giòng họ đƣợc coi là những điều kiện tiên quyết để công nhận mối quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa hai bên chủ thể. Ngoài ra, pháp luật ở thời kỳ nào cũng yêu cầu việc xác lập quan hệ hôn nhân để từ đó xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng phải đƣợc tiến hành theo những hình thức nhất định và phải đƣợc pháp luật quy 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nhƣ vậy, với các quy định về điều kiện kết hôn, điều kiện công nhận hôn nhân hợp pháp để từ đó tạo lập nên sở hữu chung của vợ chồng, pháp luật qua đó đã định hƣớng và góp phần để sở hữu chung của vợ chồng phản ánh quan điểm về ổn định và phát triển xã hội.