Chương 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC - VĂN HÓA VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO NHỮNG TRANG TÙY BÚT GIÀU CHẤT VĂN HÓA CỦA ĐỖ CHU 1. Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa 1. Văn hóa và cảm thức văn hóa 1. Văn hóa Bên cạnh Giáo dục và Đào tạo, Khoa học Công nghệ, Văn hóa có vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành Trung ương khóa VII đã khẳng định: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên.Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì vậy Đảng và nhà nước ta đã và đang chủ trương xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Để làm được điều đó thì việc giữ gìn, phát huy và chấn hưng văn hóa dân tộc được đặt ra một cách cấp bách, đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều giới. Khái niệm Văn hóa xuất hiện rất sớm ở phương Đông cũng như ở phương Tây.
Trong thời kỳ Cổ đại ở Trung Quốc, văn hóa được hiểu là cách thức điều hành xã hội của tầng lớp thống trị dùng văn hóa và giáo hóa, dùng cái hay, cái đẹp để giáo dục và cảm hóa con người. Văn đối lập với vũ, vũ công, vũ uy dùng sức mạnh để cai trị. Ở nước ta, vào thế kỉ XV, Nguyễn Trãi cũng đã mơ ước một xã hội văn trị, lấy nền tảng văn hiến cao, lấy trình độ học vấn và trình độ tu thân của mỗi người làm cơ sở cho sự phát triển hài 9 c hòa của xã hội. Ở phương Tây, từ Văn hóa bắt nguồn từ tiếng La tinh, có nghĩa là vun trồng, tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người.
Khái niệm Văn hóa về sau phát triển ngày càng phong phú. Tùy cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau, đến nay đã có mấy trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa. Tuy khác nhau, nhưng các định nghĩa đó đều thống nhất ở một điểm, coi văn hóa là cái do con người sáng tạo ra, cái đặc hữu của con người. Mọi thứ văn hóa đều là thuộc về con người, các thứ thuần túy tự nhiên không thuộc về khái niệm văn hóa.
Văn hóa là đặc trưng căn bản, phân biệt con người với động vật, cũng là tiêu chí căn bản để phân biệt sản phẩm nhân tạo và sản phẩm tự nhiên. Khi tiếp cận khái niệm văn hóa, tùy từng mục tiêu, mục đích khác nhau của người nghiên cứu mà dựa trên các cách tiếp cận khác nhau và từ đó hình thành các định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa. Xem xét mối tương quan giữa văn hóa và xã hội chúng ta có thể lựa ra bốn cách tiếp cận chủ yếu sau: tiếp cận giá trị học, tiếp cận hoạt động, tiếp cận nhân cách và tiếp cận ký hiệu học. Cả bốn góc tiếp cận này tuy khác nhau nhưng chúng đều dựa trên những nguyên tắc chung đó là dựa trên mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, dựa trên hình thái kinh tế xã hội và những nguyên tắc hoạt động của triết học Mác như nguyên tắc thực tiễn.
Trong công trình Được sáng tạo bởi nhân loại, Iu.Pađôlưi đã khẳng định: “Văn hóa trong ý nghĩa rộng rãi nhất của từ này, đó là tất cả những cái đã và đang được tạo ra bởi nhân loại” [38]. Hoặc trong tác phẩm Cơ sở văn hóa Việt Nam, tác giả Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [56]. Như vậy, với cách định nghĩa này thì nội hàm của khái niệm văn hóa bao gồm: những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm thỏa mãn các nhu cầu 10 c của con người, vì con người và những giá trị mà con người sáng tạo ra đó phải mang tính nhân tính nghĩa là nó phải mang tính người. Tóm lại, “Văn hóa là những gì còn đọng lại trong chiều sâu tâm lý con người sau khi thời gian đã sàng lọc tất cả”.
Đề tài tập trung nghiên cứu cảm thức văn hóa trong tùy bút nên nó sẽ đi sâu vào tâm lý con người hơn. Vì ở đó đọng sâu những kí ức về một thời đã đi qua, những người đã từng gặp, một nơi từng đặt chân đến,… Và đó cũng là cảm hứng tùy bút Đỗ Chu. Cảm thức văn hóa Về khái niệm cảm thức, theo Từ điển tiếng Việt do tác giả Chu Bích Thu chủ biên (NXB thành phố Hồ Chí Minh, năm 2002) đã giới thuyết về cảm thức như sau: “Cảm thức là điều, sự hiểu được, nhận biết được bằng cảm quan, bằng cảm giác. Cảm thức là quá trình tìm hiểu, nhận biết sự vật, sự việc, hiện tượng bằng cảm tính” [57, tr.
Như vậy, cảm thức là quá trình nhìn nhận, đánh giá sự vật, sự việc, hiện tượng trong tự nhiên hay những mối quan hệ xã hội, con người bị chi phối bởi yếu tố cảm tính chủ quan. Nhìn chung, có thể thấy rằng, cảm thức văn hóa là một yếu tố thuộc về lĩnh vực tinh thần, đó là sự cảm nhận về những giá trị văn hóa của một cá nhân, một con người để rồi từ nền tảng đó hình thành nên cho mình một ý thức riêng. Ý thức đó có thể đưa con người ta đi đến hình thành một nhân cách lớn. Văn học ẩn tàng những giá trị văn hóa Văn học, nghệ thuật cùng với chính trị, tôn giáo, đạo đức, triết học, phong tục… là những bộ phận hợp thành của văn hóa.
Theo nhà lý luận phê bình văn học Huỳnh Như Phương trong bài viết Văn học và văn hóa truyền thống: nếu văn hóa thể hiện quan niệm và cách ứng xử của con người trước thế giới, thì văn học là hoạt động lưu giữ những thành quả đó một cách sinh động nhất. Có thể nói, văn học là văn hóa lên tiếng bằng ngôn ngữ nghệ thuật. 11 c Nhiều tác giả cũng cho rằng: văn học biểu hiện văn hóa, cho nên văn học là tấm gương của văn hóa. Trong văn học, người đọc thấy hình ảnh của văn hóa qua sự tiếp nhận và tái hiện của nhà văn.
Đó là những phong tục, tập quán, tín ngưỡng trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (tục thờ Thần Cây đa, Thần Thành hoàng, cách lên đồng, hát chầu văn, tục may chay, cưới hỏi, đạo Mẫu và tín ngưỡng phồn thực.), là bức tranh văn hóa dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương (ca dao, tục ngữ, trò chơi dân gian, câu đố tục, giảng thanh…), đó là những nét đẹp văn hóa truyền thống trong tác phẩm truyện ngắn, tùy bút của Nguyễn Tuân (nghệ thuật thư pháp, uống trà…). Ngược lại, văn hóa tác động đến văn học ở toàn bộ những khía cạnh liên quan đến hoạt động sáng tạo của nhà văn cũng như hoạt động tiếp nhận của độc giả. Với thế giới nghệ thuật của mình, bản thân mỗi người sáng tác là một sản phẩm văn hóa. Đồng thời, đứng trước mỗi tác phẩm văn học, bạn đọc cũng chịu sự chi phối về thị hiếu thẩm mỹ, quan niệm, điểm nhìn trong một môi trường văn hóa nhất định.
Do vậy, không gian văn hóa không chỉ ảnh hưởng đến cách xử lý đề tài, thể hiện chủ đề, sử dụng hình ảnh, từ ngữ, xây dựng nhân vật, cốt truyện… trong quá trình sáng tác mà còn ảnh hưởng đến quá trình thưởng thức và đánh giá văn chương. Vì thế, chỉ có nền văn hóa cở mở, bao dung mới tạo điều kiện cho văn học phát triển thuận lợi. Cho nên, văn học được coi là thước đo, là “nhiệt kế” (theo Huỳnh Như Phương) vừa kiểm định, vừa kiểm nghiệm chất lượng và trình độ văn hóa của một xã hội trong một thời điểm lịch sử nhất định. Bên cạnh đó, nếu văn hóa chi phối hoạt động và sự phát triển của văn học thì văn học cũng tác động đến văn hóa, hoặc trên toàn thể cấu trúc, hoặc thông qua những bộ phận hợp thành của nó.
Điểm lại lịch sử phát triển của bất kì nền văn học nào, ta cũng nhận ra một điều: những nhà văn tiên phong của dân tộc bao giờ cũng là nhà văn hóa lớn. Ở Việt Nam, chúng ta có thể kể 12 c đến những tên tuổi như: Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh, Nguyễn Du… Họ dùng chính nghệ thuật ngôn từ của mình để khẳng định những giá trị văn hóa dân tộc đồng thời lên án, đấu tranh với những biểu hiện phi văn hóa. Nhìn chung, giữa văn học và văn hóa có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau. Để nghiên cứu văn học, người ta cũng chọn điểm nhìn văn hóa bên cạnh những cách tiếp nhận bằng xã hội học, mỹ học, thi pháp học… Và bằng cách đó nhận ra sự tiềm tàng của các giá trị văn hóa dân tộc.
Vì vậy, có thể nói rằng, văn học ẩn tàng những giá trị văn hóa. Đỗ Chu - nhà văn của những trang tùy bút - văn hóa xuất sắc 1. Tiểu sử và quan niệm sáng tác của Đỗ Chu 1. Khái quát về tiểu sử Nhà văn Đỗ Chu tên khai sinh là Chu Bá Bình, sinh ngày 05 tháng 2 năm 1944 tại phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang.
Ông bắt đầu viết truyện ngắn từ khi còn là học sinh trường Phổ thông Trung học Hàn Thuyên. Khi chiến tranh chống Mỹ nổ ra, Đỗ Chu rời ghế nhà trường, xung phong lên đường ra tiền tuyến, trở thành người lính cao xạ thuộc quân chủng Phòng không - Không quân. Đến năm 1965, ông tham gia học khóa II, trường Bồi dưỡng viết văn của Hội Nhà văn Việt Nam. Sau đó, đến năm 1975, ông chính thức công tác tại Hội nhà văn Việt Nam.
Năm 2012, Đỗ Chu được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Đến nay, ông đã nghỉ hưu và trở về quê nhà sinh sống. Đỗ Chu là một con người sống giản dị. Ông sống chan hòa, thân thiện với mọi người và gắn bó với quê hương.
Ông cho rằng, chẳng qua đời mỗi chúng ta cũng giống như con chim gì đang nhảy nhót chấp chới trên ngọn sóng. Chỉ có ai lênh đênh ngoài khơi thì mới gặp loài chim ấy.