phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 03 chương sau: CHƢƠNG 1: Cảm quan hậu hiện đại và tiểu thuyết hậu hiện đại. CHƢƠNG 2: Pi và triết học tôn giáo đa nguyên. CHƢƠNG 3: Triết lí về niềm tin – hiện thực và tự sự phi trung tâm. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CẢM QUAN HẬU HIỆN ĐẠI VÀ TIỂU THUYẾT HẬU HIỆN ĐẠI 1.
Từ hoàn cảnh hậu hiện đại đến triết học hậu hiện đại Chủ nghĩa hậu hiện đại được xem là sản phẩm của kỉ nguyên truyền thông đại chúng và công nghệ thông tin. Jean-Francois Lyotard, tác giả cuốn La Condition postmoderne (Hoàn cảnh hậu hiện đại) từng nhiều lần nhấn mạnh: “Hậu hiệu đại không phải là sự cáo chung của hiện đại. mà là một quan hệ khác với hiện đại” [34, tr. Ông cho rằng hậu hiện đại có mối quan hệ mật thiết với chủ nghĩa hiện đại thế kỉ XX.
Điều đó có nghĩa, ông không xem chủ nghĩa hậu hiện đại là kết quả, là con đẻ hay sự phủ nhận chủ nghĩa hiện đại mà là “xử lí lại một số đặc điểm của hiện đại, nhất là tham vọng của nó trong việc đặt cơ sở cho đề án giải phóng toàn bộ nhân loại bằng khoa học kĩ thuật”. Và cũng theo ông, chính triết học hậu hiện đại thoát thai từ tinh thần của nghệ thuật hiện đại: “Triết học hậu hiện đại diễn đạt một cách suy lý những gì nghệ thuật hiện đại đã thể nghiệm bằng phương tiện nghệ thuật” [34, tr. Phần lớn các học giả đều đồng thuận về sự xuất hiện của chủ nghĩa hậu hiện đại bắt đầu vào khoảng thập niên 1950 (khi Châu Âu kết thúc sự tái thiết) và có ảnh hưởng từ khoảng thập niên 1960. Trước đó, từ hậu hiện đại đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng như nhà phê bình văn học người Tây Ban Nha Federico de Onis đưa từ này những bài viết của mình khoảng những năm 1930 để chỉ phong trào đổi mới văn học Tây Ban Nha – Châu Mỹ Latinh khoảng từ 1905 đến 1914.
Nhưng phải đến Lyotard cùng với cuốn Hoàn cảnh hậu hiện đại, thuật ngữ hậu hiện đại này mới mang nội dung ý nghĩa như ngày nay. Lyotard cho rằng hậu hiện đại chính là “chỉ trạng thái của văn hóa sau những biến đổi tác động đến các quy tắc trò chơi [các luật chơi] của khoa học, văn học và nghệ thuật từ cuối thế kỉ XIX” [34, tr. Theo Bùi Văn Nam Sơn, cuốn sách của Lyotard đã mô tả được “sự biến chuyển từ Hiện đại sang Hậu hiện đại: về phương diện xã hội học, những biến đổi nhanh chóng của xã hội tất yếu dẫn đến sự khủng hoảng về “tâm trạng” và hình thành nên một tâm thức (esprit) mới: tâm thức hậu hiện đại; về phương diện triết học, các 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hình thức “hợp thức hóa” cho khoa học cũng lâm vào tình trạng bế tắc, đặt ta vào một hoàn cảnh (condition) mới: hoàn cảnh hậu hiện đại, cần được giải quyết về mặt khoa học luận và triết học để thoát ra khỏi hoàn cảnh bế tắc ấy.9] Sự xuất hiện và ảnh hưởng của thuật ngữ hậu hiện đại kéo theo những tranh luận sôi nổi, đôi khi khá gay gắt giữa những quan điểm đối lập nhau, bảo vệ và phản đối của các nhà triết học đương thời. Dẫu vậy, trải qua hành trình dài, hai khái niệm “thời hậu hiện đại” và “chủ nghĩa hậu hiện đại” dần khẳng định được vị trí, đưa sức ảnh hưởng lan tỏa khắp thế giới, trở thành khái niệm toàn cầu.
Thuật ngữ hậu hiện đại khi mới xuất hiện trước tiên nhằm chỉ một khuynh hướng nghệ thuật ở phương Tây, ý tưởng cơ bản của nó là sự gợi mở, sự phá cách, sự sáng tạo vượt qua những chuẩn mực của chủ nghĩa hiện đại. Mặc dầu thuật ngữ hậu hiện đại xuất hiện khá sớm, song chủ nghĩa hậu hiện trở thành một trào lưu tư tưởng, văn hóa trong các ngành khoa học, văn học nghệ thuật phải tính đến những thập niên cuối thế kỉ XX khi hội tụ đủ các điều kiện về lịch sử – xã hội, khoa học – văn hóa, lí luận triết học. Về lịch sử xã hội: những cuộc chạy đua vũ trang liên tiếp của các cường quốc, đế quốc, các thiết chế chính trị nhằm đạt đến mục đích bành trướng thế giới, khống chế toàn cầu về quyền lực chính trị, kinh tế đã gây nên những cuộc chiến tranh thảm khốc, khiến loài người bị đặt trước nguy cơ khủng bố và diệt chủng. Nhân loại đã phải trải qua những thời khắc đen tối, đã có những trải nghiệm ghê sợ với những gì bộ phận độc tài gây ra cho nhân loại trong suốt Thế chiến thứ Hai.
Những sự kiện vũ trang do các thế lực chính trị nhúng tay vào gây nên những chấn thương tinh thần cho con người,trong đó cần nhắc đến là những thảm họa ghê rợn như quá trình diệt chủng người Do Thái do phát xít Đức thực hiện và vụ ném bom nguyên tử xuống hai thành phố ở nước Nhật là Hiroshima và Nagasaki của quân đội Hoa Kỳ trong chiến tranh thế giới thứ II, việc phát triển và sử dụng vũ khí hạt nhân, vũ khí sinh học. Cho đến thời đại ngày nay, những hậu quả chúng để lại vẫn khiến nhân loại rùng mình, những di chứng của chúng còn đặt con người vào trạng thái bất an, nghi ngờ đối với các đại tự sự. Ở đó, đại tự sự có thể hiểu đơn giản là những chân lí được coi là phổ biến, đúng đắn để hợp thức hóa, chính đáng hóa một yếu tố 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hay vấn đề nào đó, bao gồm cả chính trị và khoa học. Thời gian này, con người đẩy mạnh lạm dụng khoa học kĩ thuật để phục vụ cho mục đích chính trị, kinh tế có tính phi nhân bản.
Với những sự kiện đó, tình hình thế giới tiếp tục chuyển động sang các đối cực khác nhau, tâm trạng căng thẳng luôn đặt trong xã hội lẫn con người. “Thế giới không còn an ninh, chiến tranh lạnh, đối kháng đông – tây, chạy đua vũ trang, bóng ma của vũ khí hạt nhân, chiến tranh Triều Tiên, Việt Nam, Algiery, chủ nghĩa quan liêu, chủ nghĩa quân phiệt, sự đàn áp các nhân sĩ tiến bộ” [33, tr. Trong lòng các nước tư bản phát triển và trên toàn thế giới, phong trào đấu tranh vì quyền con người, vì sự bình đẳng giới tính, chủng tộc, bảo vệ môi trường, môi sinh, phong trào công nhân… diễn ra hết sức gay gắt nhằm chống lại các khẩu hiệu mang tính chất ngụy trang tự do, dân chủ, văn minh đã phần nào làm lung lay thiết chế chính trị. Chính điều này tác động không nhỏ đến kết cấu tâm lí con người, từ chỗ duy lí về lí trí chuyển sang vào trạng thái hoài nghi, lo âu ngay trong thời hiện tại và tương lai.
Những câu hỏi thế giới sẽ đi về đâu, con người sẽ sống thế nào, con người thực chất là ai; phải chăng khi đời sống vật chất càng cao, đời sống tinh thần càng nghèo nàn; đạo đức, tính nhân văn, niềm tin có còn đáng tin và có còn đáng để theo đuổi nữa không… đã và đang ám ảnh con người. Theo thời gian, không khí hoang mang, hoài nghi, bi quan, bất tín bao trùm lên hết thảy, vô hình chung trở thành thế giới quan chủ đạo của con người thời đại này. Về khoa học văn hóa: những thập niên cuối thế kỉ XX, tình hình thế giới có nhiều biến động khó lường. Sự bùng nổ của khoa học kĩ thuật trong lĩnh vực truyền thông – thông tin và sinh học cùng với sự tan rã của nhiều thế lực đối kháng trong chiến tranh lạnh chuyển từ đối đầu sang đối thoại, đối tác kinh tế, thế giới bước vào một hệ thống mới, ở đó quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ.
Vấn đề tiếp cận và hội nhập với sự vận động không ngừng của thế giới trở thành điều kiện tiên quyết cho nhân loại tồn tại và phát triển. Nếu không, con người sẽ trở thành kẻ cô độc và “hoang dại”, tưởng như không khác kẻ lạc giữa hoang đảo. Con người luôn cần có sự tương tác với nhau, và điều kiện phát triển của khoa học kĩ thuật giai đoạn này đáp ứng cho con người thực hiện điều ấy càng thêm dễ dàng. Hầu hết các tương tác 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của con người với nhau đều được thực hiện qua công cụ trung gian là các phương tiện truyền thông.
Những thông tin, những tri thức, những sự kiện… được truyền tới con người qua những phương tiện đó đã góp một phần không nhỏ trong quá trình hình thành nhận thức cho con người. Điều đáng nói chính là những hiểu biết đó không còn giữ được tính khách quan nữa mà đa phần có tính chủ quan. Con người chịu ảnh hưởng của nền văn hóa họ tiếp xúc và tiếp thu nên tất cả những tri thức, những niềm tin… họ có được cũng đều chịu ảnh hưởng của chính nền văn hóa kia. Trong bối cảnh văn hóa hậu hiện đại, nhận thức của con người thay đổi nhanh chóng, đặc biệt là khi những phát minh khoa học mới được ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống.
Những lí thuyết mới như thuyết hỗn độn của Eward Lorentz (1960) , thuyết điều khiển học của Nobert Weiner (1964), thuyết hình học Fractal của nhà toán học Benoit Mandelbrot (1977), những khám phá về vật lí học đã góp phần không nhỏ mở ra những cái nhìn đa chiều về hiện thực. Những thành tựu về khoa học công nghệ từ đó cũng đã đem tới nhiều chất liệu cần và đủ cho sự hình thành của nhận thức luận chủ nghĩa hậu hiện đại. “Đó là quan niệm về thực tại phi tuyến tính, bất định, xác suất, đa tầng, chủ quan được gợi mở từ thuyết tương đối và cơ học lượng tử, là sự tỉnh táo trước tham vọng xây dựng những lí thuyết phổ quát có tính chặt chẽ, nhất quán, tuyệt đối từ định lí bất toàn, là chiến lược nghiên cứu mới với định hướng tìm ra những quy luật đặc thù trong từng tình huống cụ thể từ lí thuyết tai biến, là việc tìm kiếm các quy luật xác suất trong các đối tượng hỗn độn và hình học fractal” [45, tr. Trong hoàn cảnh mới dường như giá trị nhân văn trở nên lu mờ, con người càng trở nên hoài nghi, lo âu, ích kỉ, dần sụp đổ niềm tin trước thời đại.