CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 1.1 Nhóm tác giả Bushman, Piotroski, and Smith (2004) với nghiên cứu "Yếu tố nào quyết định tính minh bạch của công ty?" đã phân tích về sự minh bạch thông tin của các CTNY dựa trên 2 nhóm yếu tố: minh bạch TTTC (tính kịp thời, độ tin cậy, khả năng tiếp cận thông tin) và minh bạch thông tin quản trị. Nghiên cứu này cũng đánh giá mức độ ảnh hưởng của yếu tố luật pháp và kinh tế đến tính minh bạch thông tin của doanh nghiệp thông qua mẫu khảo sát của các CTNY trên 41 đến 46 quốc gia. Trong đó Bushman và nhóm tác giả xem xét tính minh bạch của BCTC thông qua 5 nhóm yếu tố: (1) Mức độ công bố thông tin, (2) Mức độ công bố thông tin quản trị công ty, (3) Các nguyên tắc kế toán, (4) Thời gian công bố BCTC, (5) Chất lượng kiểm toán các BCTC được công bố. Qua công trình nghiên cứu này, Bushman và nhóm tác giả kết luận rằng: minh bạch trong quản trị công ty liên quan mật thiết với cơ chế pháp lý, trong khi đó minh bạch thông tin tài chính (TTTC) liên quan chủ yếu đến chính sách kinh tế.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho rằng minh bạch TTTC có liên quan đến quy mô doanh nghiệp. Cụ thể, công ty có quy mô lớn thì mức độ minh bạch TTTC cao hơn công ty nhỏ. Ngược lại, mức độ minh bạch trong quản trị công ty không liên quan đến quy mô doanh nghiệp. Nghiên cứu của Bushman và nhóm tác giả chỉ dừng lại ở mức thống kê mô tả các yếu tố liên quan đến tính minh bạch thông tin và trình bày các thước đo để đo lường tính minh bạch thông tin mà chưa đưa ra được mối tương quan giữa các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin.2 Mô hình của Soderstrom and Sun (2007) nghiên cứu về: “Các yếu tố quyết định đến chất lượng Báo cáo tài chính khi áp dụng IFRS” bao gồm: hệ thống pháp luật và chính trị, chuẩn mực kế toán và việc trình bày báo cáo tài chính.
7 Hệ thống Pháp luật và chính trị Trình bày 2 BCTC 3 5 7 9 11 Chuẩn mực Phát triển thị Cấu trúc Chủ sở Hệ thống kế toán trường tài vốn hữu thuế 1 4 6 8 10 Chất lượng BCTC Hình 1.1 Mô hình các yếu tố tác động tới chất lượng TTKT của Soderstrom and Sun (2007) Kết quả nghiên cứu của mô hình cho thấy: Hệ thống pháp luật và chính trị là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT theo nhiều cách khác nhau, nó có thể tác động trực tiếp đến chất lượng TTKT hoặc tác động gián tiếp đến chất lượng TTKT thông qua chuẩn mực kế toán và việc trình bày báo cáo tài chính. Vai trò của hệ thống luật và chính trị sẽ giúp cho việc áp dụng IFRS dễ dàng hơn. Chuẩn mực kế toán cũng chịu sự tác động của hệ thống pháp luật và chính trị, từ đó sẽ tác động lên chất lượng kế toán. Đồng thời, chuẩn mực cũng nêu rõ các đặc tính chất lượng thông tin kế toán cần đáp ứng đó là tính phù hợp, tính đáng tin cậy, tính trung lập và có thể hiểu được.3 Mô hình nghiên cứu của nhóm tác giả Cheung et al.
(2007) nghiên cứu về "Các yếu tố ảnh hưởng tới sự minh bạch và công bố thông tin: Bằng chứng từ Thái Lan và Hồng Kông". Nghiên cứu đưa ra 2 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin và tính minh bạch thông tin là: Nhóm yếu tố tài chính và nhóm yếu tố về quản trị công ty. Trong nhóm yếu tố tài chính, tác giả đưa ra mô hình 5 biến tài chính có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin và tính minh bạch thông tin gồm quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, tình hình tài chính, tài sản thế 8 chấp, hiệu quả sử dụng tài sản. Trong nhóm yếu tố quản trị, tác giả đưa ra 3 biến quản trị có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin và tính minh bạch thông tin gồm: mức độ tập trung quyền sở hữu, cơ cấu Hội đồng quản trị (HĐQT) và quy mô của HĐQT.
Nghiên cứu trên của nhóm tác giả đã thực hiện khảo sát với số lượng 265 CTNY trên thị trường chứng khoán Thái Lan và 148 CTNY trên thị trường chứng khoán Hồng Kông. Kết quả chỉ ra rằng: mức độ công bố và tính minh bạch thông tin của các công ty Thái Lan thì cao hơn nhiều so với các công ty ở Hồng Kông. Về các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của các CTNY thì ở nhóm yếu tố tài chính: các yếu tố như quy mô công ty, hiệu quả sử dụng tài sản, giá trị tài sản thế chấp và khả năng sinh lợi dài hạn của doanh nghiệp ảnh hưởng đến tính minh bạch và mức độ công khai thông tin của các CTNY ở Hồng Kông, nhưng lại không ảnh hưởng đến các công ty ở Thái Lan. Trong khi đó, các yếu tố quản trị công ty như quy mô và cơ cấu HĐQT có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin ở Thái Lan nhưng lại không ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin ở Hồng Kông.
Nghiên cứu cũng đã thực nghiệm để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố và tính minh bạch thông tin và kết luận rằng quản trị công ty tốt dẫn đến việc công bố và minh bạch thông tin sẽ tốt hơn ở Thị trường Thái Lan. Tuy nhiên, nhóm tác giả chủ yếu chỉ so sánh mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trên giữa 2 TTCK Thái Lan và Hồng Kông, đồng thời chỉ mới thống kê mô tả về mức độ ảnh hưởng của các nhóm yếu tố tài chính và quản trị công ty, nhưng chưa giải thích được nguyên nhân sâu xa của các kết quả từ nghiên cứu thực nghiệm, chẳng hạn vì sao hầu như các yếu tố tài chính lại không ảnh hưởng đến tính minh bạch và mức độ CBTT ở các CTNY Thái Lan nhưng lại có ảnh hưởng đối với các CTNY Hồng Kông 9 QUY MÔ CÔNG TY QUY MÔ ĐÒN HĐQT BẢY TÀI CHÍNH TÍNH MINH CƠ CẤU BẠCH TÌNH HĐQT THÔNG TIN HÌNH TÀI CHÍNH MỨC ĐỘ TẬP TÀI SẢN TRUNG THẾ QUYỀN SỞ CHẤP HỮU HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN Hình 1.2 Mô hình nghiên cứu của Cheung et al.2 Các nghiên cứu trong nước 1.1 Tác giả Trần Đình Khôi Nguyên (2013) nghiên cứu về “Bàn về thang đo yếu tố phi tài chính ảnh hưởng vận dụng chuẩn mực kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam” Mục tiêu của bài nghiên cứu là bàn đến thang đo các yếu tố phi tài chính ảnh hưởng vận dụng chuẩn mực kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam để có các định hướng phát triển kế toán ở Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện trên 283 doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Đà Nẵng thông qua bảng câu hỏi do các điều tra viên của viện nghiên cứu phát triển – xã hội thành phố Đà Nẵng thực hiện trong năm 2011. Thông qua phương pháp phân tích nhân tố, có bốn yếu tố ảnh hưởng tới vận dụng chuẩn mực kế toán trong các DNNVV là: (1) đặc trưng hệ thống văn bản kế toán Việt Nam, (2) Nhận thức của người chủ doanh nghiệp, (3) Trình độ của kế toán viên và (4) vai trò của cộng đồng kế toán.2 Tác giả Phạm Ngọc Toàn (2015) nghiên cứu: “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.
Mục tiêu nghiên cứu của bài 10 báo này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin (CBTT) của các doanh nghiệp (DN) niêm yết. - Mẫu nghiên cứu Đối tượng của nghiên cứu tập trung vào BCTC năm 2014 của các DN niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Tiến hành chọn ngẫu nhiên 100 công ty. - Phương pháp thu thập dữ liệu Theo danh sách công ty niêm yết tại trang web của Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, trong số các DN đạt yêu cầu của mẫu chọn, chọn ngẫu nhiên 100 DN.
Tải BCTC của các DN được chọn về, kiểm tra ngày niêm yết đầu tiên và số báo cáo trong BCTC theo các yêu cầu đã được nêu ở phần chọn mẫu. Tiến hành ghi mã và nhập dữ liệu vào phần mềm Microsoft Office Excel. Tính toán các biến: chỉ số công bố thông tin Ij và các biến độc lập khác. Kết quả sẽ được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 kết hợp cùng với phần mềm Microsoft Office Excel.
Trên cơ sở đó, nêu ra tầm quan trọng và tính hiệu quả của việc công bố thông tin của các công ty niêm yết. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố Quy mô doanh nghiệp, Chủ thể kiểm toán, Thành phần HĐQT, Thời gian hoạt động, Khả năng thanh toán lại ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các DN niêm yết theo mô hình sau với mức độ phù hợp 47.184*Kntt Qua kết quả nghiên cứu bài báo nêu các giải pháp nhằm tăng cường chất lượng công bố thông tin trên báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Tp.3 Nghiên cứu của Phan Minh Nguyệt (2014): “Xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến chất lượng thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết ở Việt Nam”. Mục tiêu đề tài nghiên cứu là tìm hiểu yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán và mức độ ảnh hưởng của chúng. Kiểm định 7 yếu tố: Nhà quản trị, lợi ích và chi phí lập và trình bày báo cáo tài chính, trình độ nhân viên kế toán, mục đích lập báo cáo tài chính, thuế, rủi ro 11 kiểm toán những yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán.
Sử dụng phương pháp định tính và định lượng. Mẫu nghiên cứu lập bảng câu hỏi để điều tra khảo sát, khảo sát 200 đối tượng làm việc nhiều ngành nghề: Kế toán, kiểm toán, kinh doanh… Thu thập, phân tích xử lý dữ liệu khảo sát, dùng phần mềm SPSS 16.0 chạy mô hình hồi quy tuyến tính bội, kiểm định thang đo bằng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach Anpha và phân tích EFA. Kết quả nghiên cứu có 5 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính là: Rủi ro kiểm toán, nhà quản trị doanh nghiệp, việc lập và trình bày báo cáo tài chính, thuế, lợi ích và chi phí.