Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trƣớc liên quan đến nghiên cứu các nhân tố tác động đến CLTT BCTC. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5: Hàm ý và kết luận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC LIÊN QUAN ĐẾN NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƢỢNG THÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH Trong chƣơng 1, tác giả trình bày các nghiên cứu trƣớc đƣợc công bố ở nƣớc ngoài và ở trong nƣớc về CLTT BCTC, các nhân tố ảnh hƣởng đến CLTT BCTC. Từ đó xác định khe hỏng nghiên cứu và đƣa ra hƣớng nghiên cứu cho luận văn.1 Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài 1.1 Các nghiên cứu về CLTT BCTC Davood Khodadady (2012) với nghiên cứu “The relevance of financial reporting information system in banking industry”, nhằm kiểm tra đặc tính “Tính thích hợp” (Relevance) của thông tin BCTC của các ngân hàng ở Ấn Độ. Một mẫu gồm BCTC của 49 ngân hàng, gồm 22 ngân hàng tƣ nhân và 27 ngân hàng công đƣợc sử dụng trong nghiên cứu này.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng sử dụng thang đo Likert 5 điểm để phân tích 14 thuộc tính, trong đó 10 thuộc tính liên quan đến giá trị dự báo và 04 thuộc tính còn lại liên quan đến giá trị xác nhận. Kết quả nghiên cứu cho thấy tính thích hợp của thông tin BCTC ở các ngân hàng khu vực tƣ nhân cao hơn so với thông tin BCTC ở các ngân hàng khu vực công. Alexios Kythreotis (2014) với nghiên cứu “Measurement of financial reporting quality based on IFRS conceptual framework’s fundamental qualitative characteristics” đo lƣờng hai đặc tính “sự thích hợp” (relevance) và “độ tin cậy” (reliability) đƣợc quy định trong khung khái niệm của IASB về CLTT. Mẫu của nghiên cứu bao gồm các công ty phát triển đã thông qua IFRS và niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán ở Châu Âu, bao gồm: Áo, Bỉ, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ireland, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Vƣơng quốc Anh.
Các BCTC đƣợc thu thập trong khoảng thời gian 10 năm, từ năm 2000 đến năm 2009, trong đó, BCTC trong thời gian 2000-2004 đại diện cho BCTC trƣớc khi áp dụng IAS và từ 2005-2009 đại diện cho BCTC sau khi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 áp dụng IAS. Kết quả phân tích mô hình hồi quy cho thấy đặc tính “sự thích hợp” gia tăng sau khi áp dụng IAS, trong khi “độ tin cậy” dƣờng nhƣ không đổi so với trƣớc và sau khi áp dụng IAS. Nghiên cứu “Financial Reporting Quality - Before and After IFRS Adoption Using NICE Qualitative Characteristics Measurement” của Yurisandi và Puspitasari (2015) nhằm đánh giá sự sự thay đổi của CLTT BCTC sau khi áp dụng IFRS. Nghiên cứu dƣợc thực hiện bằng phƣơng pháp định tính đƣợc phát triển bởi Nijmegen Centre for Economics (NiCE).
Mẫu của nghiên cứu là các BCTC trong giai đoạn 2009-2010 đại diện cho BCTC trƣớc khi áp dụng IFRS, và các BCTC trong giai đoạn 2012-2013 đại diện cho BCTC sau khi áp dụng IFRS. Kết quả nghiên cứu cho thấy các đặc tính định tính về mức độ liên quan, tính dễ hiểu, và khả năng so sánh đƣợc tăng lên sau khi thông qua IFRS. Andra Gajevszky, Ph. Student (2015) cũng đƣa ra kết luận tƣơng tự sau khi thực hiện nghiên cứu CLTT BCTC của 50 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Bucharest từ năm 2011 đến năm 2013.
Trong nghiên cứu này, BCTC năm 2011 chƣa áp dụng IFRS, và từ năm 2012 đến năm 2013 đã áp dụng IFRS. Ferrero và cộng sự (2015) với nghiên cứu “Effect of Financial Reporting Quality on Sustainability Information Disclosure” về mối quan hệ giữa CLTT BCTC với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR). Các tác giả sử dụng một mẫu gồm 747 công ty phi tài chính quốc tế ở 25 quốc gia, trong giai đoạn từ 2002 đến 2010. Kết quả thu đƣợc cho thấy CLTT BCTC ảnh hƣởng tích cực đến chất lƣợng CSR.
Cụ thể, các công ty thực hiện quản trị thu nhập trong BCTC có xu hƣớng công bố thông tin kém về CSR, hoặc thậm chí là không có thông tin nhƣ vậy. Ngƣợc lại, các công ty tôn trọng nguyên tắc thận trọng thì thông tin BCTC và cam kết CSR có chất lƣợng cao. Nawrocki và Leszek (2014) với nghiên cứu có tên “Financial reporting quality in companies listed on the Warsaw stock exchange”. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá CLTT BCTC các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Warsaw (Ba Lan).
Nghiên cứu sử dụng mẫu là BCTC quý, BCTC nửa năm và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 BCTC hàng năm đƣợc công bố từ năm 2012 đến năm 2014 của 400 công ty. Kết quả nghiên cứu cho thấy hơn một phần ba các công ty đƣợc nghiên cứu có độ tin cậy CLTT BCTC thấp hơn so với các công ty còn lại. Điều này đặt ra vấn đề khóa khăn trong việc ánh giá xu hƣớng phát triển của các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Warsaw.2 Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến CLTT BCTC Nghiên cứu “Critical success factors for accounting information systems data quality” của Hongjiang Xu và cộng sự (2003) hƣớng đến mục tiêu tìm hiểu các nhân tố tác động đến CLTT BCTC trong các doanh nghiệp ở Australia. Bảy doanh nghiệp ở Australia đã đƣợc sử dụng để làm mẫu cho nghiên cứu, trong đó có bốn doanh nghiệp lớn, ba doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nghiên cứu đƣợc thực hiện qua bốn giai đoạn: xây dựng mô hình nghiên cứu sơ bộ, bổ sung thêm một số nhân tố tác động đến CLTT BCTC, thu thập dữ liệu, khảo sát quy mô lớn – dùng phƣơng pháp thống kê mô tả kiểm định các giả thuyết. Kết thúc nghiên cứu, các tác giả đƣa ra 26 nhân tố phân thành ba nhóm nhân tố có thể tác động đến CLTT BCTC, bao gồm: Con ngƣời, Hệ thống, Tổ chức. Nghiên cứu “Factors that Affect Accounting Information System Implementation and Accounting Information Quality: A Survey in University Utara Malaysia” của Al-Hiyari & cộng sự (2013) hƣớng đến mục tiêu tìm hiểu các nhân tố tác động đến CLTT BCTC thông qua xem xét tác động của: nguồn nhân lực, chất lƣợng dữ liệu, cam kết quản lý, và chất lƣợng dữ liệu. Nghiên cứu đƣợc thực hiện bằng phƣơng pháp định lƣợng.
200 bảng câu hỏi đƣợc thiết kế theo thang đo Likert 5 điểm đƣợc gửi đến các học viên của trƣờng đại học Utara Malaysia, bao gồm các sinh viên, cử nhân, thạc sĩ, nghiên cứu sinh đang công tác tại các doanh nghiệp và có kinh nghiệm từ 01 đến 05 năm (72. Kết quả chỉ thu về đƣợc 119 bảng hợp lệ (59. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy có mối quan hệ giữa CLTT BCTC với chất lƣợng hệ thống TTKT và nguồn nhân lực. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Holtz và cộng sự (2014) với nghiên cứu “Effects of Board of Directors' Characteristics on the Quality of Accounting Information in Brazil”, với mục đích nghiên cứu tác động của các đặc điểm cấu trúc, thành phần của hội đồng quản trị bao gồm quy mô và tính độc lập của ban giám đốc và tách biệt vai trò của chủ tịch và giám đốc điều hành đến đặc tính phù hợp của CLTT BCTC các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán BM & Fbovespa (Brazil).
Mẫu nghiên cứu bao gồm các công ty phi tài chính đƣợc liệt kê trên BM & FBovespa với thanh khoản thị trƣờng chứng khoán hàng năm cao hơn 0,001, trong khoảng thời gian từ 2008-2011. Phƣơng pháp hồi quy đƣợc sử dụng để phân tích dữ liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với các công ty giao dịch cổ phiếu trên BM & FBovespa tại thị trƣờng Brazil, tính độc lập của hội đồng quản trị và tách biệt vai trò của chủ tịch với giám đốc điều hành ảnh hƣởng tích cực đến CLTT BCTC. Nghiên cứu “Quality of financial reporting in the Asia-Pacific region : The influence of ownership composition” của Yasser và cộng sự (2016) đƣợc thực hiện với mục đích tìm hiểu mối liên hệ giữa nhân tố sở hữu với CLTT BCTC của các công ty trong khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng.
Nghiên cứu sử dụng mẫu gồm 20 công ty trong giai đoạn 2011-2013 từ các nƣớc Úc, Singapore, Malaysia, Philippines và Pakistan. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc tập trung quyền sở hữu có liên quan tích cực với CLTT BCTC. Tuy nhiên, quyền sở hữu công ty và sở hữu nƣớc ngoài có liên quan tích cực với việc công bố BCTC ở các nƣớc đang phát triển, sở hữu công ty và sở hữu công có tác động tích cực đến CLTT BCTC ở các nƣớc phát triển. Các tác giả cũng đƣa ra nhận định rằng các công ty lớn hơn có mối tƣơng quan ngƣợc chiều với chất lƣợng báo cáo tài chính ở châu Á-Thái Bình Dƣơng.
Nghiên cứu của Wisna (2018) với tên gọi “Factors Affecting The Quality Of Accounting Information” nghiên cứu các nhân tố tác động đến CLTT kế toán. Đối tƣợng nghiên cứu của tác giả là các lãnh đạo và kế toán ở ít nhất 59 doanh nghiệp nhà nƣớc ở Bangdung. Mô hình nghiên cứu của Nelsi Wisna (2018) gồm ba biến độc lập, một biến trung gian và một biến phụ thuộc. Kết quả nghiên cứu cho TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 thấy các nhân tố Lãnh đạo, Quản trị tri thức và Đào tạo có ảnh hƣởng Hệ thống TTKT, và chất lƣợng hệ thống TTKT ảnh hƣởng đến chất lƣợng TTKT ở ba đặc tính: (1) thích hợp, (2) chính xác, (3) kịp thời.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 1.1 Các nghiên cứu về CLTT BCTC Nguyễn Thị Phƣơng Hồng và Dƣơng Thị Khánh Linh (2014) có một nghiên cứu “Quan điểm về đặc điểm chất lượng BCTC của các DN Việt Nam hiện nay”, nhằm mục tiêu đo lƣờng CLTT BCTC trong các DN tại Việt Nam trên cơ sở các đặc điểm về CLTT BCTC đƣợc ban hành bởi IASB & FASB: Tính thích hợp; trung thực; có khả năng so sánh đƣợc; Có thể kiểm chứng; Kịp thời; Có thể hiểu đƣợc.
Số lƣợng mẫu khảo sát trong nghiên cứu là 137. Đối tƣợng khảo sát là kế toán viên, kiểm toán viên và nhà đầu tƣ. Kết quả nghiên cứu cho thấy BCTC các thành phần CLTT BCTC trong các DN Việt Nam có giá trị trung bình từ 2,79 đến 3,45. Rõ ràng, chất lƣợng BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chƣa đƣợc đánh giá cao.
Một kết quả khác khá thú vị về nghiên cứu này đó là các đặc điểm của chất lƣợng BCTC có một khoảng cách khá lớn giữa mong đợi và thực tế. Phạm Quốc Thuần (2017) với nghiên cứu “Tính thích hợp của chất lượng thông tin báo cáo tài chính - Cơ sở lý luận và thực trạng trong các doanh nghiệp tại Việt Nam” .