MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Hình phạt là một chế định quan trọng của luật hình sự. Hình phạt là trách nhiệm pháp lý mà người phạm tội phải gánh chịu đối với những hành vi phạm tội gây ra và thể hiện sự lên án và trừng trị của Nhà nước đối với người phạm tội. Việc quy định hành vi nào là tội phạm chỉ có ý nghĩa khi đi kèm nó là các hình phạt nhằm mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa họ phạm tội mới.
Bên cạnh đó, hình phạt không chỉ có mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm. Hệ thống hình phạt trong Bộ luật hình sự Việt Nam được phân chia thành các hình phạt chính và các hình phạt bổ sung, bao gồm 7 hình phạt chính khác nhau (Cảnh cáo; Phạt tiền; Cải tạo không giam giữ; Trục xuất; Tù có thời hạn; Tù chung thân; Tử hình) và 7 hình phạt bổ sung (Cấm đảm nhiệm chức vụ; Cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; Cấm cư trú; Quản chế; Tước một số quyền công dân; Tịch thu tài sản; Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; Trục xuất khi không áp dụng là hình phạt chính). Trong hệ thống hình phạt còn có thể phân chia thành hệ thống các hình phạt tước tự do, hạn chế tự do và các hình phạt không tước tự do (bao gồm cả một số hình phạt chính và hình phạt bổ sung). Các hình phạt chính không tước tự do gồm: Cảnh cáo, Phạt tiền, Cải tạo không giam giữ.
Các hình phạt bổ sung không tước tự do gồm có: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; Tước một số quyền công dân; Tịch thu tài sản; Phạt tiền (khi không áp dụng là hình phạt chính). 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đối với mỗi loại hình phạt khác nhau nhà làm luật quy định nội dung cụ thể và các điều kiện áp dụng nó. So với hệ thống hình phạt trong Bộ luật hình sự 1985 và trước khi pháp điển hoá, toàn bộ hệ thống hình phạt nói chung và các hình phạt cụ thể đã có nội dung rõ ràng hơn, chính xác hơn, đã thiết lập được một hệ thống thước đo trách nhiệm chính xác hơn đối với các tội phạm. Tuy nhiên, trong hệ thống các hình phạt không tước tự do - về lý luận và thực tiễn, còn tồn tại nhiều bất cập; các điều kiện áp dụng hình phạt không tước tự do còn quy định chung chung; ranh giới giữa một số hình phạt không tước tự do còn khó xác định; giới hạn mức hình phạt tối thiểu và tối đa trong số các hình phạt không tước tự do chưa sát thực tế; tương quan giữa các loại hình phạt truyền thống như hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình và các loại hình phạt không tước tự do chưa tương xứng; số lượng hình phạt không tước tự do ít được áp dụng trong thực tiễn xét xử; các quy định về thi hành hình phạt không tước tự do còn tồn tại một số bất cập, thực tiễn áp dụng và thi hành nảy sinh nhiều vấn đề cần giải quyết.
Với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, cải cách nền tư pháp trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế, trong khoa học luật hình sự cần có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về các chế định, quy định nói chung và chế định hình phạt nói riêng của luật hình sự Việt Nam. Đây cũng là yêu cầu mà Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã đề ra, đó là “Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm". 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việc tăng cường áp dụng các hình phạt không tước tự do thể hiện rõ nét chính sách phân hoá trách nhiệm hình sự và nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự, tạo điều kiện cho người phạm tội có cơ hội hoàn lương mà không phải cách ly khỏi xã hội; đồng thời còn giúp giảm bớt chi phí của Nhà nước trong việc giam giữ người phạm tội, tăng cường tính răn đe, giáo dục trong cộng đồng, góp phần hiệu quả vào công cuộc phòng và chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác.
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa những vấn đề lý luận về hình phạt không tước tự do và sự thể hiện chúng trong các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành, đồng thời đánh giá việc áp dụng hình phạt không tước tự do trong thực tiễn để đưa ra các giải pháp hoàn thiện về mặt luật pháp, nâng cao hiệu quả áp dụng các hình phạt không tước tự do không những có ý nghĩa lý luận - thực tiễn và pháp lý quan trọng, mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết. Đây cũng là lý do luận chứng cho việc tác giả quyết định chọn đề tài “Các hình phạt không tước tự do trong luật hình sự Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học. Tình hình nghiên cứu đề tài: Trong khoa học luật hình sự đã có một số công trình nghiên cứu về các hình phạt không tước tự do như: Nguyễn Văn Trượng, Một số vấn đề rút ra từ thực tiễn áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, Tạp chí Toà án nhân dân, số 4, tháng 2/2009; Hình phạt tiền và thực tiễn áp dụng của tác giả Đỗ Văn Chỉnh, Tạp chí Toà án nhân dân, số 5, tháng 3/2009; TS Dương Tuyết Miên, Các hình phạt bổ sung trong BLHS năm 1999 và hướng hoàn thiện, Tạp chí Toà án nhân dân số 8, tháng 4/2009; Chương 8 Hình phạt và biện pháp tư pháp trong Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2005; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Chương 15. Khái niệm hình 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phạt, hệ thống Hình phạt và các biện pháp tư pháp, Chủ biên: GS.TSKH Lê Cảm, NXB.
ĐHQG Hà Nội, 2005; Đặc biệt là luận án của Tiến sĩ Trịnh Quốc Toản với tên gọi "Các hình phạt bổ sung trong Luật hình sự Việt Nam", năm 2009, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận án đã phân tích rất sâu sắc và toàn diện ở cấp độ luận án Tiến sĩ và đưa ra nhiều giải pháp khoa học nhằm hoàn thiện các hình phạt bổ sung. Các công trình khoa học nói trên, đã gợi mở cho tác giả luận văn nhiều ý tưởng khoa học, là những tài liệu rất quý giá được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài. Tuy nhiên, khái quát những nghiên cứu trên đây của các tác giả cho thấy đối tượng nghiên cứu của các tác giả thường tập trung vào một loại hoặc một nhóm hình phạt không tước tự do cụ thể; một số công trình nghiên cứu chỉ ở mức độ các bài viết đăng trên tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành với việc giải quyết một nội dung tương ứng của vấn đề này hoặc là một khối kiến thức cơ bản một phần, mục trong các giáo trình giảng dạy, một chương của sách chuyên khảo mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về toàn bộ các hình phạt không tước tự do trong luật hình sự Việt Nam dưới góc độ cả về lý luận và thực tiễn ở cấp độ luận văn Thạc sĩ; chưa có tổng kết đánh giá thực tiễn áp dụng, cũng như chỉ ra các tồn tại, vướng mắc trong thực tế để đề xuất các kiến giải lập pháp và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng một cách tổng thể đối với các hình phạt không tước tự do.
Phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ luận văn Thạc sĩ luật học với tên đề tài như đã nêu trên, tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề sau: - Lý luận về hình phạt không tước tự do; - Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của các hình phạt không tước tự do trong Luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nghiên cứu về các hình phạt không tước tự do trên các phương diện lập pháp và thực tiễn áp dụng để từ đó chỉ ra những bất cập, hạn chế, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tiễn. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 4. Mục đích của luận văn Thạc sĩ là: Góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về hình phạt không tước tự do nhằm góp phần đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp; đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng các hình phạt không tước tự do.
Nhiệm vụ của luận văn Thạc sĩ là: - Làm rõ cơ sở lý luận về các hình phạt không tước tự do. - Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật Việt Nam về hình phạt không tước tự do và thực tiễn áp dụng các quy định đó. - Đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các hình phạt không tước tự do trước yêu cầu cải cách tư pháp. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp; những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học luật hình sự Việt Nam.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong Luận văn là phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp luật học so sánh. Những đóng góp của Luận văn: Hệ thống, phân tích những vấn đề lý luận về hình phạt không tước tự do. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đưa ra quan điểm mới về khái niệm, đặc điểm và vai trò của hình phạt không tước tự do. Khái quát, làm sáng tỏ quá trình hình thành, phát triển và của các hình phạt không tước tự do trong LHS Việt Nam từ năm 1945 đến nay.