Chương 1: Khái quát chung về biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành án dân sự Chương 2: Nội dung của biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để THA theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam. Chương 3: Thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để THA và một số khuyến nghị. Kết luận: Khẳng định, khái quát kết quả nghiên cứu. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỆN PHÁP CƢỠNG CHẾ KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành án dân sự 1. Khái niệm kê biên tài sản Theo từ điển từ và ngữ Việt Nam của nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh năm 1998 thì kê biên là một từ Hán - Việt. “Kê” nghĩa là tính toán, còn “biên” có nghĩa là ghi chép lại theo một trật tự nhất định.
Vậy kê biên có nghĩa là tính toán và ghi chép lại theo một trật tự nhất định. Về tài sản, hiện nay chúng ta chưa có một khái niệm khát quát về tài sản mà chỉ có một định nghĩa mang tính chất liệt kê: Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản (Điều 163 BLDS 2005) Thuật ngữ kê biên tài sản đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật của nước ta như pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989, pháp lệnh thi hành án dân sự 1993, 2004… do đó, có thể thấy rằng đây là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng nhiều trong pháp luật tố tụng dân sự. Trong cuốn từ điển các thuật ngữ pháp lý thông dụng cũng của nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh năm 1999 có định nghĩa KBTS như sau: “Kê biên tài sản là việc ghi lại từng tài sản, cấm việc tẩu tán, phá hủy, để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án”. Như vậy, kê biên tài sản là một thuật ngữ pháp lý chỉ việc tính toán và ghi chép lại tài sản theo một trật tự nhất định nhằm mục đích cụ thể.
Tài sản ở đây có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Từ những năm 1989 trở về trước, trong pháp luật tố tụng dân sự nước ta chưa có sự phân biệt rõ ràng hai khái niệm kê biên tài sản và tịch biên tài sản. Song mỗi khái niệm về một sự vật hiện tượng luôn gắn với một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, trong quá trình phát triển các nhà lập pháp đã có sự phân biệt về hai khái niệm này. Kê biên chỉ là một hình thức ghi lại tài sản theo thứ tự và áp dụng đối với tài sản hợp pháp của một chủ thể, còn tịch biên thường 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được áp dụng đối với tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp.
Cũng chính vì thế mà nó kéo theo hậu quả pháp lý khác nhau. Tài sản bị tịch biên thường bị sung công quỹ Nhà nước, tài sản kê biên sẽ được xử lý để thực hiện nghĩa vụ của người có tài sản bị kê biên, có nghĩa là không bị sung công quỹ Nhà nước. Như vậy, tịch biên có thể gọi là tịch thu sung công quỹ Nhà nước những tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp, nó có bản chất hoàn toàn khác với kê biên. Qua khái niệm KBTS ta thấy rằng trong đời sống hàng ngày có những khái niệm tương tự, gần giống với kê biên.
Nhưng KBTS luôn gắn với một chủ thể nhất định, nhân danh cho quyền lực Nhà nước, vì thế không phải ai cũng có quyền KBTS của người khác, không phải hành động nào tương tự cũng được gọi là kê biên. Trong quá trình tố tụng dân sự nhiều chủ thể có quyền áp dụng biện pháp KBTS nhưng việc áp dụng ấy có tính chất và mục đích hoàn toàn khác nhau, không phải lúc nào KBTS cũng được áp dung với tính chất là một biện pháp cưỡng chế để THA. Điều này chúng tôi sẽ làm rõ ở phần tiếp theo. Kê biên tài sản - Biện pháp cƣỡng chế để thi hành án dân sự.
Điều 18 PLTHADS 2004 quy định: “ Khi bản án, quyết định của Tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh này thì Tòa án đã tuyên án, quyết định đó phải cấp cho người được thi hành án và người phải thi hành án bản án hoặc quyết định có ghi “để thi hành”. Toà án phải giải thích cho người được thi hành án, người phải thi hành án về quyền yêu cầu, thời hạn yêu cầu thi hành án và nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật ”. Người được THA căn cứ vào bản sao quyết định, bản án đó có quyền yêu cầu cơ quan THA thi hành. Đơn yêu cầu THA phải được gửi kèm cùng bản sao bản án, quyết định và phải được gửi trong thời hiệu THA.
Sau khi nhận bản sao bản án, quyết định cùng với đơn yêu cầu của người được THA, cơ quan THA phải vảo sổ nhận bản sao bản án, quyết định, sổ nhận đơn yêu cầu THA. Đồng thời cơ quan THA phải cấp cho đương sự phiếu nhận đơn 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngay sau khi nhận đơn yêu cầu THA của đương sự. Sổ nhận đơn yêu cầu THA phải ghi rõ nội dung yêu cầu THA của đương sự. Theo khoản 2, khoản 3, Điều 9 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP, nếu đơn yêu cầu THA không đúng quy định thì cơ quan THA hướng dẫn người yêu cầu THA làm lại đơn đúng quy định.
Nếu người được THA trực tiếp trình bày yêu cầu THA bằng lời nói tại cơ quan THA thì cơ quan THA phải lập biên bản ghi rõ nội dung yêu cầu theo đúng hướng dẫn về đơn yêu cầu quy định tại Điều 6 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP. sau đó, yêu cầu người yêu cầu ký vào biên bản hoặc nếu không biết chữ thì điểm chỉ. Biên bản cũng có chữ ký của cán bộ lập biên bản, biên bản thay cho đơn yêu cầu THA. Cán bộ lập biên bản cũng phải làm thủ tục vào sổ nhận đơn yêu cầu và cấp cho người yêu cầu phiếu nhận đơn như đối với trường hợp nhận đơn yêu cầu của đương sự.
Thời hạn ra quyết định thi hành án là năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định; đối với quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải ra ngay quyết định thi hành án. Sau khi có quyết định THA, Thủ trưởng cơ quan thi hành án (CQTHA) phải phân công chấp hành viên là nhiệm vụ thi hành. Chấp hành viên bắt đầu thủ tục THA bằng thông báo cho người được THA, người phải THA về việc THA. Chấp hành viên cũng định cho người phải THA thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định THA để tự nguyện THA (Điều 6 Pháp lệnh THADS 2004).
Nếu hết thời hạn này mà người phải THA không tự nguyện thi hành thì chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế THA. Trong trường hợp cụ thể CHV có quyền kê biên tài sản của người phải THA. Như vậy, kê biên tài sản là biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, chủ thể có quyền áp dụng là cơ quan THA dân sự mà cụ thể là chấp hành viên được phân công trách nhiệm thi hành bản án, quyết định dân sự đó. Tài sản bị kê biên là tài sản của người phải THA, người phải THA này có thể là cá nhân 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoặc tổ chức đã được xác định cụ thể, đích danh trong quyết định, bản án được mang ra thi hành.
Điều kiện để chấp hành viên ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản của người phải THA là: Bản án, quyết định dân sự được thi hành (bao gồm những bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng thi hành ngay - Điều 2 Pháp lệnh THADS 2004). Có quyết định THA của người có thẩm quyền. Bản án, quyết định được thi hành là bản án, quyết định về tài sản, hoặc có liên quan đến tài sản. Người phải thi hành án có tài sản và tài sản đó thuộc phạm vi tài sản được phép kê biên theo pháp luật hiện hành.
Người phải THA đã không THA trong thời hạn tự nguyện. Khi có đầy đủ các căn cứ trên thì CHV có quyền ra quyết định KBTS của người phải THA. Tuy vậy, pháp luật cũng cho phép trong trường hợp sau thì CHV có quyền kê biên ngay tài sản của người phải THA (Khoản 2 Điều 7 Pháp lệnh THADS 2004): Phát hiện người phải THA có hành vi tẩu tán tài sản. Người phải THA có hành vi hủy hoại tài sản.
Phát hiện người phải THA có hành vi trốn tránh việc THA. Tài sản đã kê biên được định giá và giao bảo quản theo quy định của pháp luật để chờ xử lý. Xử lý tài sản đã kê biên Tài sản đã kê biên được trả lại cho chủ sở hữu nếu như tài sản đã kê biên nhưng xác định được tài sản đó không phải là của người phải THA, hoặc trước khi xử lý tài sản kê biên người phải THA đã thực hiện nghĩa vụ THA hoặc khi có quyết định đình chỉ THA của người có thẩm quyền thì Thủ trưởng cơ quan THA trả lại đơn yêu cầu THA (nếu có), 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đồng thời ra quyết định giải toả kê biên, tài sản đã kê biên được trả lại cho người có tài sản đã bị kê biên. Nếu không thuộc các trường hợp trên thì khi hết thời hạn luật định, tài sản đã kê biên được đem bán đấu giá để lấy tiền thực hiện nghĩa vụ THA của người phải THA.
Việc bán đấu giá được tiến hành theo quy định của pháp luật, tiền bán tài sản kê biên sau khi trừ mọi chi phí THA sẽ được thanh toán theo một thứ tự ưu tiên nhất định. Sau khi thanh toán đầy đủ nghĩa vụ THA, nếu còn thì CHV trả lại cho người phải THA. Như vậy, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản là để đảm bảo thi hành bản án, quyết định của Tòa án về tài sản. Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế này CHV nhân danh quyền lực Nhà nước tiến hành ghi lại từng tài sản của người phải THA, theo một trình tự nhất định để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ THA về tài sản của người đó.
Sau một thời gian nhất định, nếu người phải THA không thực hiện nghĩa vụ thì tài sản này được mang bán đấu giá để lấy tiền thi hành án.