Luận văn: Phát triển Bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Minh Hóa, Quảng Bình

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Minh Hóa, Quảng Bình.

Trường đại học

Trường Đại học Duy Tân

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

118
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN BHXHBTN

1.1. Tổng quan về phát triển BHXH tự nguyện.

1.2. Một số khái niệm chung về bảo hiểm xã hội. Bản chất, vai trò và nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm xã hội tự nguyện

1.3. Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện.

1.3.1. Nội dung về phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện.

1.3.2. Phát triển về số lượng

1.3.3. Phát triển về chất lượng

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

1.4.1. Hệ thống pháp luật và chính sách về BHXH tự nguyện

1.4.2. Nhận thức của người dân

1.4.3. Yếu tố về thu nhập

1.4.4. Thể chế tổ chức bộ máy và cán bộ

1.5. Kinh nghiệm về phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam.

1.5.1. Bảo hiểm xã hội tự nguyện ở huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An:

1.5.2. Bài học kinh nghiệm rút ra cho việc phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình.

1.6. Kết luận chương 1.

2. CHƯƠNG 2 - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH.

2.1. Khái quát chung về huyện Minh Hoá tỉnh Quảng Bình.

2.1.1. Điều kiện tự nhiên.

2.1.2. Điều kiện kinh tế.

2.1.3. Tình hình dân số, lao động.

2.2. Giới thiệu chung về Bảo hiểm xã hội huyện Minh Hoá.

2.3. Thực trạng phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện

2.3.1. Phát triển về mặt lượng.

2.3.2. Phát triển về mặt chất lượng.

2.4. Đánh giá chung đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình.

2.4.1. Những kết quả đạt được.

2.4.2. Những mặt tồn tại, hạn chế.

2.4.3. Nguyên nhân các hạn chế.

3. CHƯƠNG 3 - GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH.

3.1. Quan điểm, định hướng và mục tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyên trên địa bàn huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình.

3.1.1. Quan điểm phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện:

3.1.2. Định hướng phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện.

3.1.3. Mục tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện.

3.2. Giải pháp phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình.

3.2.1. Phát triển BHXH tự nguyện về mặt lượng:.

3.2.2. Phát triển BHXH tự nguyện về mặt chất.

3.3. Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

3.4. Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Bình.

3.5. Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội huyện Minh Hoá.

3.6. Kết luận chương 3.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan cơ sở lý luận về BHXH tự nguyện tại Minh Hóa

Luận văn thạc sĩ về BHXH tự nguyện tại Minh Hóa, Quảng Bình của tác giả Đinh Thanh Ngọc (2020) đã hệ thống hóa một cách toàn diện nền tảng lý luận và thực tiễn của chính sách này. Bảo hiểm xã hội (BHXH) được định nghĩa là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp các rủi ro như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hoặc hết tuổi lao động. Trong đó, bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình do Nhà nước tổ chức, cho phép người tham gia tự lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập cá nhân để hưởng quyền lợi hưu tríchế độ tử tuất. Đây là một trụ cột quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, đặc biệt nhắm đến nhóm đối tượng là người lao động tự dolao động khu vực phi chính thức chưa được bao phủ bởi BHXH bắt buộc. Luận văn nhấn mạnh, sự phát triển BHXH tự nguyện không chỉ là gia tăng số lượng người tham gia mà còn là nâng cao chất lượng dịch vụ và hoàn thiện chính sách. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến quá trình này bao gồm: hệ thống pháp luật, nhận thức của người dân, mức thu nhập, và năng lực của bộ máy tổ chức thực hiện. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, để đạt được an sinh xã hội bền vững, việc mở rộng tỷ lệ bao phủ BHXH là nhiệm vụ cấp thiết, đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của người dân, đặc biệt tại các địa bàn có đặc thù vùng miền núi như Minh Hóa.

1.1. Bản chất và vai trò của chính sách an sinh xã hội

Bản chất của bảo hiểm xã hội tự nguyện thể hiện ở cả khía cạnh kinh tế và xã hội. Về kinh tế, đây là quá trình phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia để tạo lập một quỹ dự trữ, hỗ trợ các thành viên khi gặp rủi ro. Về xã hội, chính sách hoạt động không vì lợi nhuận, nhằm mục tiêu ổn định cuộc sống, giảm bớt gánh nặng cho gia đình và xã hội khi người lao động về già. Vai trò của chính sách này là vô cùng to lớn: góp phần ổn định đời sống, thực hiện công bằng xã hội, và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Đây là nền tảng để đảm bảo mọi công dân đều có cơ hội nhận lương hưu, không phải phụ thuộc vào con cháu, qua đó xây dựng một xã hội tiến bộ và nhân văn.

1.2. Phân tích cơ sở lý luận về BHXH tự nguyện hiện hành

Luận văn đã đi sâu vào cơ sở lý luận về BHXH tự nguyện, dựa trên Luật BHXH năm 2014 và các văn bản hướng dẫn. Chính sách này xác định rõ đối tượng tham gia là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc. Các nguyên tắc hoạt động cốt lõi bao gồm: nguyên tắc tự nguyện, có đóng có hưởng, mức hưởng tương ứng với mức đóng, và được Nhà nước bảo hộ. Đặc biệt, theo Nghị định 134/2015/NĐ-CP, từ năm 2018, Nhà nước đã có chính sách hỗ trợ tiền đóng cho người tham gia, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước trong việc khuyến khích người dân tham gia vào lưới an sinh xã hội.

II. Thách thức phát triển BHXH tự nguyện tại Minh Hóa Quảng Bình

Nghiên cứu về BHXH tự nguyện tại Minh Hóa, Quảng Bình đã chỉ ra những rào cản và thách thức đặc thù tại một huyện miền núi. Điều kiện kinh tế - xã hội Minh Hóa còn nhiều khó khăn, thu nhập bình quân đầu người thấp và không ổn định, phần lớn dân cư là nông dân huyện Minh Hóa và lao động trong lĩnh vực nông-lâm nghiệp. Theo tác giả Đinh Thanh Ngọc, đây là nguyên nhân cốt lõi khiến nhiều người dù nhận thức được lợi ích của BHXH nhưng không đủ khả năng tài chính để tham gia đều đặn. Bên cạnh đó, trình độ dân trí và nhận thức xã hội còn hạn chế, nhiều người vẫn giữ tư duy 'trông chờ vào con cái' khi về già thay vì chủ động chuẩn bị cho tương lai. Công tác tuyên truyền chính sách BHXH dù đã được triển khai nhưng chưa thực sự sâu rộng và hiệu quả, chưa tiếp cận được hết các nhóm đối tượng tiềm năng. Các thủ tục hành chính đôi khi còn phức tạp, cộng với địa bàn đi lại khó khăn cũng là một trở ngại không nhỏ. Thực trạng tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn cho thấy số lượng người tham gia còn khiêm tốn so với tiềm năng, chưa đạt được mục tiêu đề ra, đặt ra một bài toán lớn cần lời giải cho chính quyền và cơ quan BHXH huyện Minh Hóa.

2.1. Phân tích thực trạng tham gia BHXH tự nguyện của người dân

Số liệu giai đoạn 2017-2019 trong luận văn cho thấy thực trạng tham gia BHXH tự nguyện tại Minh Hóa còn nhiều hạn chế. Tốc độ tăng trưởng số người tham gia chậm, tỷ lệ bao phủ còn rất thấp so với tổng số lao động trong diện. Phần lớn người tham gia lựa chọn mức đóng và phương thức đóng BHXH ở mức tối thiểu để đủ điều kiện hưởng, phản ánh khả năng tài chính hạn hẹp. Các nhóm đối tượng như người lao động tự do, tiểu thương, lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động nhưng lại có tỷ lệ tham gia thấp nhất, cho thấy chính sách chưa thực sự hấp dẫn và tiếp cận hiệu quả đến các nhóm này.

2.2. Các nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ bao phủ BHXH thấp

Nguyên nhân của những tồn tại trên mang tính hệ thống. Thứ nhất, về kinh tế, thu nhập bấp bênh là rào cản lớn nhất. Thứ hai, về nhận thức, nhiều người chưa hiểu rõ về tính ưu việt và lợi ích lâu dài của quyền lợi hưu trí. Thứ ba, chính sách hiện hành còn một số điểm chưa hấp dẫn, chẳng hạn như thời gian đóng tối thiểu 20 năm là quá dài đối với nhiều người. Cuối cùng, năng lực của mạng lưới đại lý thu và hiệu quả của các chiến dịch truyền thông chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn tại một địa bàn có đặc thù vùng miền núi.

III. Hướng dẫn giải pháp tuyên truyền BHXH tự nguyện tại Minh Hóa

Để giải quyết bài toán nhận thức, luận văn về BHXH tự nguyện tại Minh Hóa, Quảng Bình đề xuất một hệ thống giải pháp truyền thông toàn diện và đồng bộ. Cốt lõi của các giải pháp này là phải làm cho người dân hiểu đúng, hiểu đủ và tin tưởng vào chính sách. Công tác tuyên truyền chính sách BHXH không thể chỉ dừng lại ở việc phát tờ rơi hay thông báo trên loa phát thanh. Thay vào đó, cần đa dạng hóa hình thức, đổi mới nội dung sao cho gần gũi, dễ hiểu nhất với từng nhóm đối tượng. Cần xây dựng các thông điệp truyền thông nhấn mạnh vào lợi ích thiết thực: 'lương hưu cho tuổi già an nhàn', 'chỗ dựa vững chắc khi hết khả năng lao động'. Việc phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và những người có uy tín trong cộng đồng (già làng, trưởng bản) là chìa khóa để thông tin lan tỏa một cách tự nhiên và hiệu quả. Cơ quan BHXH huyện Minh Hóa cần chủ động tổ chức các buổi đối thoại trực tiếp, giải đáp thắc mắc, tạo sự tương tác hai chiều với người dân. Đây là cách tốt nhất để phát triển đối tượng tham gia BHXH một cách bền vững, dựa trên sự tự nguyện và hiểu biết.

3.1. Đổi mới nội dung và phương pháp truyền thông chính sách

Nội dung tuyên truyền cần được 'địa phương hóa', sử dụng ngôn ngữ và ví dụ thực tế từ chính cuộc sống của nông dân huyện Minh Hóa. Thay vì các thuật ngữ pháp lý phức tạp, hãy diễn giải chính sách bằng những câu chuyện, những tính toán đơn giản về lợi ích. Phương pháp cần đa dạng: tổ chức hội nghị khách hàng ở cấp thôn, bản; lồng ghép tuyên truyền trong các buổi sinh hoạt cộng đồng; sử dụng các kênh truyền thông hiện đại như mạng xã hội bên cạnh các kênh truyền thống. Đặc biệt, xây dựng đội ngũ tuyên truyền viên là người địa phương sẽ mang lại hiệu quả cao hơn.

3.2. Nâng cao vai trò của hệ thống đại lý thu và chính quyền cơ sở

Hệ thống đại lý thu không chỉ là người thu tiền mà phải là những 'tuyên truyền viên' tại chỗ. Cần thường xuyên tập huấn, nâng cao kỹ năng tư vấn, cung cấp đầy đủ tài liệu cho đội ngũ này. Đồng thời, cần có sự chỉ đạo quyết liệt từ cấp ủy, chính quyền địa phương, đưa chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH vào nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của xã, thị trấn. Sự phối hợp chặt chẽ này tạo thành một mạng lưới tuyên truyền vận động mạnh mẽ và sâu rộng.

IV. Bí quyết cải thiện chính sách BHXH tự nguyện tại Quảng Bình

Bên cạnh truyền thông, việc hoàn thiện chính sách là yếu tố then chốt để tăng sức hấp dẫn của BHXH tự nguyện tại Minh Hóa, Quảng Bình. Luận văn đã đưa ra các kiến nghị quan trọng dựa trên đánh giá hiệu quả chính sách trong thực tiễn. Một trong những đề xuất đột phá là nghiên cứu giảm dần số năm đóng BHXH tối thiểu để hưởng lương hưu từ 20 năm xuống 15 năm, tiến tới 10 năm theo tinh thần Nghị quyết 28-NQ/TW. Điều này sẽ giải quyết được tâm lý 'ngại chờ đợi' của nhiều người dân. Cần xem xét bổ sung các chế độ hưởng ngắn hạn linh hoạt như hỗ trợ ốm đau, thai sản vào gói BHXH tự nguyện để tăng tính hấp dẫn so với các sản phẩm bảo hiểm thương mại. Chính sách BHXH tại Quảng Bình cần có những cơ chế hỗ trợ thêm từ ngân sách địa phương, bên cạnh mức hỗ trợ của trung ương, đặc biệt cho các hộ cận nghèo, người dân tộc thiểu số. Việc đơn giản hóa thủ tục đăng ký, thanh toán, cho phép đóng BHXH linh hoạt theo quý, 6 tháng hoặc theo mùa vụ thu hoạch sẽ tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người dân, đặc biệt là lao động khu vực phi chính thức có thu nhập không đều.

4.1. Đề xuất hoàn thiện chính sách để thu hút người tham gia

Các kiến nghị cụ thể bao gồm: xây dựng các gói BHXH tự nguyện linh hoạt với nhiều mức đóng và quyền lợi khác nhau để người dân lựa chọn; tăng mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và địa phương; nghiên cứu tích hợp thêm các quyền lợi ngắn hạn. Những thay đổi này nhằm mục tiêu biến chính sách an sinh xã hội trở nên gần gũi và thiết thực hơn với cuộc sống hàng ngày của người lao động, thay vì chỉ là một khoản tiết kiệm cho tương lai xa.

4.2. Tối ưu hóa quy trình và bộ máy tổ chức thực hiện

Việc đánh giá hiệu quả chính sách phải đi đôi với cải tiến bộ máy. Cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, thu-chi, cho phép người dân đăng ký, tra cứu thông tin và đóng tiền trực tuyến. Mở rộng và nâng cao chất lượng mạng lưới đại lý thu, áp dụng cơ chế thù lao hấp dẫn hơn để khuyến khích họ tích cực tìm kiếm và vận động đối tượng mới. Cơ quan BHXH huyện Minh Hóa cần cải cách thủ tục hành chính theo hướng 'một cửa', giảm thời gian chờ đợi, tạo sự hài lòng cho người dân khi đến giao dịch.

V. Kết quả và định hướng phát triển BHXH tại huyện Minh Hóa

Luận văn thạc sĩ về BHXH tự nguyện tại Minh Hóa, Quảng Bình không chỉ phân tích thực trạng mà còn đưa ra những định hướng phát triển mang tính chiến lược. Kết quả nghiên cứu là một bộ tài liệu khoa học, cung cấp cơ sở thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách và cơ quan BHXH địa phương. Mục tiêu dài hạn là xây dựng một hệ thống an sinh xã hội bền vững, trong đó BHXH tự nguyện đóng vai trò là một tấm lưới an sinh quan trọng, bao phủ phần lớn lực lượng lao động chưa có quan hệ lao động. Định hướng phát triển trong những năm tới tập trung vào hai trụ cột chính: 'Lượng' và 'Chất'. Về 'Lượng', cần đặt ra các chỉ tiêu cụ thể về phát triển đối tượng tham gia BHXH mới hàng năm, phấn đấu tăng dần tỷ lệ bao phủ BHXH trên địa bàn. Về 'Chất', cần đảm bảo người tham gia duy trì việc đóng góp đều đặn, nâng cao mức độ hài lòng về chất lượng dịch vụ, và đảm bảo quỹ BHXH được quản lý an toàn, hiệu quả. Việc triển khai thành công các giải pháp mở rộng BHXH tự nguyện sẽ góp phần quan trọng vào công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế-xã hội bền vững tại huyện Minh Hóa.

5.1. Tổng hợp các giải pháp mở rộng BHXH tự nguyện hiệu quả

Các giải pháp mở rộng BHXH tự nguyện được tổng hợp thành 4 nhóm chính: (1) Nhóm giải pháp về truyền thông, nâng cao nhận thức; (2) Nhóm giải pháp về hoàn thiện chính sách và cơ chế; (3) Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện, cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ; (4) Nhóm giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền và sự phối hợp của các đoàn thể. Sự kết hợp đồng bộ của các nhóm giải pháp này sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, thúc đẩy chính sách đi vào cuộc sống.

5.2. Tầm nhìn hướng tới an sinh xã hội bền vững cho mọi người

Tầm nhìn cuối cùng là hiện thực hóa mục tiêu BHXH cho mọi người lao động. An sinh xã hội bền vững không chỉ là đảm bảo quyền lợi hưu trí mà còn là tạo dựng niềm tin của người dân vào chính sách của Đảng và Nhà nước. Luận văn là một tài liệu tham khảo giá trị, góp phần hiện thực hóa tầm nhìn đó, bắt đầu từ những nỗ lực cụ thể tại một địa bàn còn nhiều khó khăn như huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.

01/10/2025
Luận văn thạc sĩ phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện tại bảo hiểm xã hội minh hóa tỉnh quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 1.Tổng quan về phát triển BHXH tự nguyện 1. Một số khái niệm chung về bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm về bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội có lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu và sự tồn tại của nó là tất yếu, có nhiều khái niệm về BHXH do có nhiều cách tiếp cận BHXH khác nhau. Bảo hiểm là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.

[7] BHXH là sự bảo vệ của xã hội, của Nhà nước đối với người lao động. Người lao động sẽ được BHXH trợ giúp vật chất và các dịch vụ y tế cần thiết để ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình họ. Chỉ trong các trường hợp có những rủi ro liên quan đến thu nhập của người lao động thì mới được hưởng BHXH. BHXH được thực hiện trên cơ sở một quỹ tiền tệ.

Tuy nhiên, những khái niệm này đã thể hiện được nhận thức chung về BHXH như sau: Trước hết, BHXH là một loại hình bảo hiểm mang tính xã hội rất cao, tổ chức BHXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Đối tượng của BHXH là thu nhập của người lao động, còn diện bảo vệ của BHXH lại bao gồm cả NLĐ và gia đình họ. Vì thế, suy cho cùng BHXH đã, đang và sẽ bảo vệ cho mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội. Tham gia đóng góp để hình thành quỹ BHXH bao gồm cả người lao động và người sử dụng lao động.

Quỹ được hình thành và sử dụng luôn có sự hỗ trợ và bảo hộ của Nhà nước. Mục đích của BHXH là góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Khái niệm BHXH được khái quát một cách đầy đủ nhất trong Luật BHXH 10 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2014 như sau: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” (Luật BHXH, 2014) 1. Khái niệm về bảo hiểm xã hội tự nguyện Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất ( K3Đ3- Luật BHXH 2014 ) Thực chất, BHXH tự nguyện là hình thức BHXH mà người lao động và người sử dụng lao động hoàn toàn tự nguyện tham gia, không có tác động khách quan áp đặt, không bị pháp luật cưỡng chế phải tham gia.

Ở đó, họ được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng BHXH. Có thể nói, BHXH tự nguyện là loại hình BHXH nhằm bao phủ hết các đối tượng còn chưa được tham gia loại hình BHXH bắt buộc của người lao động theo pháp luật, đồng thời là cầu nối trung gian, là bước quá độ tiến tới thực hiện BHXH cho mọi người lao động trong xã hội, đảm bảo an sinh xã hội. [10] Với bản chất như trên, BHXH tự nguyện chỉ có thể được hình thành và thực hiện trên cơ sở: người lao động và có thể cả người sử dụng lao động tự nguyện tham gia với điều kiện: - Có nhu cầu thực sự về BHXH. - Có khả năng tài chính để tham gia BHXH tự nguyện theo quy định.

- Có sự thống nhất với những quy định cụ thể (mức đóng, mức hưởng, quy trình thực hiện, phương pháp quản lý, sử dụng quỹ BHXH tự nguyện. - Có tổ chức, cơ quan đứng ra thực hiện BHXH tự nguyện: thu phí BHXH tự nguyện, quản lý quỹ BHXH tự nguyện, quản lý đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, thực hiện chi trả trợ cấp BHXH tự nguyện cho các đối tượng được thụ hưởng. - Được Nhà nước bảo hộ và hỗ trợ khi cần thiết: bảo hộ quỹ BHXH tự nguyện, 11 có chính sách ưu đãi cho hoạt động đầu tư quỹ. Mặc dù mang tính chất tự nguyện nhưng chính sách BHXH tự nguyện vẫn là chính sách do Nhà nước ban hành nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia.

Nhà nước quy định mức đóng góp để hình thành Quỹ BHXH tự nguyện đủ lớn để chi trả cho người tham gia BHXH tự nguyện và xây dựng các chế độ mà người tham gia BHXH được hưởng ( bao gồm điều kiện hưởng, mức hưởng ) để bảo đảm bù đắp rủi ro cho người tham gia BHXH tự nguyện Đối tượng tham của BHXH là người lao động và người sử dụng lao động. Họ là những người trực tiếp tham gia đóng góp tạo nên quỹ BHXH với một khoản tỷ lệ nhất định so với tiền lương của người lao động theo quy định của luật BHXH. Tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những người lao động nào đó trong xã hội. [12] * Đặc điểm về đối tượng tham gia BHXH tự nguyện Trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, vấn đề chăm sóc và bảo vệ quyền lợi cho người lao động luôn được Đảng và Chính phủ quan tâm chú trọng.

Như chúng ta đã nói ở phần trên, vấn đề BHXH cho người lao động trong những năm vừa qua, đặc biệt là từ khi ngành BHXH được thành lập số lượng đối tượng được tham gia BHXH đã tăng lên rõ rệt. Với mục tiêu đặt ra của ngành BHXH trong những năm tới là phải đảm bảo cho 100% đối tượng; lao động trong các thành phần, kinh tế kể cả trong và ngoài quốc doanh cũng như đối tượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và lao động tự do được tham gia và hưởng BHXH. Một số đặc điểm cơ bản của đối tượng thuộc diện tham gia BHXH tự nguyện đó là đặc điểm của đối tượng làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp (nhóm đối tượng chiếm tỷ trọng lớn nhất). [14] - Về thu nhập: Thu nhập của người lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp trong những năm vừa qua ngày càng tăng, tốc độ tăng thu nhập tuy thấp hơn bình quân chung của cả nước.

Chi phí của hộ dân ngày càng tăng cao, nhưng nhờ thu nhập tăng khá, ngoài phần chi tiêu dùng cho đời sống, phần lớn các gia đình đã có đầu tư tích lũy. 12 - Những vấn đề liên quan đến việc làm của người lao động: Do tính chất đặc trưng nghề nghiệp của đối tượng; tham gia BHXH tự nguyện có nhiều khác biệt so với nhóm đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc. Cụ thể như: + Đối với lao động làm công ăn lương thuộc các thành phần kinh tế quốc doanh, họ thường có công việc tương đối ổn định, được pháp luật bảo hộ, được hưởng các quyền lợi theo quy định trong Bộ Luật Lao động như quy định về tiền lương, tiền công, ngày nghỉ, thời gian lao động và các chế độ ưu đãi khác. Tính ổn định trong công việc của người lao động còn được thể hiện thông qua các ràng buộc vể mặt pháp lý như người lao động làm việc trong các doanh nghiệp đều có hợp đồng lao động ký kết với chủ sử dụng lao động, có thoả ước lao động tập thể đảm bảo cho người lao động được thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ theo đúng pháp luật quy định và các công ước Quốc tế.

Chính vì vậy, việc tham gia BHXH cho người lao động cơ bản được giới chủ thực hiện một cách nghiêm túc. Trong khi đó, nếu xét trên khía cạnh về việc làm của đối tượng lao động thuộc diện tham gia BHXH tự nguyện, ta thấy lao động trong lĩnh vực nông nghiệp thì hoạt động sản xuất kinh doanh của họ chủ yếu mang tính tự cung tự cấp, hưởng thu nhập trên giá trị sản phẩm do chính họ tạo ra. Đối với những lao động có tư liệu sản xuất (ruộng đất) thì thu nhập của họ còn có thể được xác định thông qua sản lượng thu hoạch của các năm, nhưng đối với những lao động không có tư liệu sản xuất thì công ăn việc làm và thu nhập của họ hoàn toàn mang tính thời vụ, tính chất công việc lại càng không mang tính ổn định. Để đảm bảo quyền lợi về BHXH cho nhóm đối tượng này thực sự là một vấn đề rất phức tạp vì quá trình làm việc của người lao động; có thể không mang tính liên tục.

Theo kinh nghiệm về BHXH của một số nước phát triển như: Pháp, Đức. họ cũng đã xây dựng một số mô hình về BHXH tự nguyện cho đối tượng lao động tự tạo việc làm, nhưng cơ bản phương thức để thực hiện là đều xây dựng một mức tham gia BHXH bình quân trên cơ sở mức thu nhập tối thiểu của xã hội. Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, vấn đề việc làm cho người lao động vẫn là một trong những vấn đề mang tính bức xúc, đặc biệt là việc chuyển đổi tỷ trọng cơ cấu nền kinh tế, chuyển dần từ nông nghiệp sang công nghiệp. Như vậy, 13 không có nghĩa là việc tham gia BHXH cho đối tượng làm việc trong lĩnh vực này là không thực hiện được.

Theo số liệu báo cáo tổng kết kinh nghiệm thực tiễn BHXH tự nguyện ở một số tỉnh thì đa phần người dân rất có ý thức trong việc xác định tham gia BHXH và hưởng chế độ hưu trí. Như vậy, vấn đề việc làm của người lao động chỉ có thể được bảo đảm khi quy định về BHXH tự nguyện đề cập đến các vấn đề như cách xác định thời gian tham gia BHXH, mức tham gia ở từng thời điểm và phương thức quy đổi giữa các thời kỳ khác nhau. Ngoài ra do đặc thù công việc không mang tính ổn định có thể cho phép người lao động được lựa chọn thời gian nộp BHXH phù hợp với mức nộp đã đăng ký với cơ quan BHXH và được bảo lưu thời gian nộp BHXH nếu vì lí do nào đó người lao động bị mất việc làm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ