Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THÚC ĐẨY, BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ CỦA NGƢỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM QUYỀN DÂN SỰ CỦA NGƢỜI KHUYẾT TẬT VÀ SỰ CẦN THIẾT THÚC ĐẨY, BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ CỦA NGƢỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm quyền dân sự của Ngƣời khuyế t tâ ̣t 1. Khái niệm Người khuyế t tật Con ngƣời là một thực thể tự nhiên và xã hội, phát sinh, phát triển dƣới sự tác động của các quy luật tự nhiên và xã hội.
Cũng nhƣ mọi thực thể khác, con ngƣời cũng đƣợc sinh ra và tồn tại một cách đa dạng và có thể có những đột biến, những rủi ro về tâm sinh lý, nên có thể bị khiếm khuyết, bị dị tật. Tuy nhiên, trƣớc tạo hóa, con ngƣời luôn bình đẳng. Cùng với quá trình phát triển của xã hội, con ngƣời đã xác định đƣợc những quy tắc xử sự chi phối mọi hoạt động của các chủ thể biết tôn trọng và bảo đảm quyền tự do và bình đẳng của con ngƣời. Điều 1 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con ngƣời năm 1948 tuyên bố: “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng về nhân phẩm và quyền.
Mọi con người đều được tạo hóa ban cho lí trí và lương tâm và cần đối xử với nhau trong tình bằng hữu” [11, Điề u 1]. Chính quy định này đã cho thấy rõ vị trí của mỗi ngƣời sinh ra trong xã hội là hoàn toàn bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, không có sự phân biệt đối xử giữa những ngƣời đƣợc sinh ra bình thƣờng và những ngƣời sinh ra đã có khiếm khuyết. Nói một cách nôm na, ngƣời khuyết tật (NKT) là ngƣời có khiếm khuyết và ngƣời bị tàn tật. Trong pháp luật quốc tế về quyền con ngƣời, NKT thuộc nhóm ngƣời 5 dễ bị tổn thƣơng.
Họ “dễ bị tổn thƣơng” trong cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ này. Trƣớc đây, khi xã hội chƣa phát triển, nhận thức của con ngƣời còn hạn chế, hầu nhƣ mọi ngƣời trong xã hội đều có cái nhìn chƣa tốt về NKT. Xã hội coi những NKT là gánh nặng cho xã hội, coi họ là những đối tƣợng cần sự thƣơng cảm, giúp đỡ của ngƣời khác, việc bảo vệ hỗ trợ họ chủ yếu dựa trên cách tiếp cận của tình thƣơng và lòng nhân đạo, chính vì vậy mà họ không có quyền, không phải là chủ thể của quyền công dân. Cách tiếp cận này không những không đảm bảo cho NKT đƣợc hƣởng đầy đủ các quyền con ngƣời mà còn ngăn cản họ tham gia, hội nhập có hiệu quả vào đời sống xã hội.
Hiện nay, cùng với những nỗ lực của cộng đồng quốc tế việc thay đổi nhận thức về vị trí và vai trò của NKT đã diễn ra một cách mạnh mẽ hơn, vị trí của NKT ngày càng đƣợc nâng cao. Cùng với những thay đổi về vai trò của NKT thì vị trí của họ cũng đƣợc ghi nhận và khẳng định trong hệ thống các văn bản pháp luật của các quốc gia. Sự chuyển biến về nhận thức dẫn tới thay đổi cả cách gọi tên của nhóm xã hội này. Nếu nhƣ trƣớc đây việc dùng tên gọi là ngƣời tàn tật có hàm ý, miệt thị và hạ thấp, thì hiện nay đã đƣợc gọi tên là những NKT.
Với tên gọi mới này cho thấy rằng đây là nhóm ngƣời tuy có những khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần, nhƣng họ không phải và không đƣợc coi là những ngƣời vô dụng trong xã hội mà họ cũng là chủ thể của quyền con ngƣời. Cùng với những sự thay đổi đó thì đã có hai quan điểm khác nhau về NKT đó là: Quan điểm khuyết tật cá nhân và quan điểm khuyết tật xã hội. Quan điểm khuyết tật cá nhân hay quan điểm khuyết tật dưới góc độ y tế. Quan điểm này cho rằng NKT là do hạn chế cá nhân, là ở chính con ngƣời đó, chú trọng rất ít hoặc không để ý đến các yếu tố môi trƣờng xã hội và môi trƣờng vật thể xung quanh NKT.
Quan điểm này cho rằng NKT có thể 6 hƣởng lợi từ phƣơng pháp khoa học nhƣ thuốc điều trị và các công nghệ cải tiến chức năng. Mô hình y tế chú trọng vào việc trị liệu cá nhân chứ không xem trọng việc trị liệu xã hội. Nhƣ vậy mô hình y tế nhìn nhận NKT là vấn đề đƣa ra và đƣa ra giải pháp để làm ngƣời đó “bình thƣờng”. Với quan điểm này xã hội đã coi NKT là những ngƣời có vấn đề về thể chất và cần phải chữa trị.
Do đó đã đẩy những NKT vào thế bị động của ngƣời bệnh. Quan điểm khuyết tật theo mô hình xã hội Đây đƣợc coi là nền tảng của những chuyển biến của vấn đề NKT. Ở đây, NKT đƣợc nhìn nhận là hệ quả bị xã hội phân biệt. Bởi vì xã hội đƣợc tổ chức không tốt nên NKT bị phân biệt đối xử.
Từ những quan điểm khác nhau thì mỗi quốc gia có một cách nhìn nhận riêng và có cách hiểu riêng về định nghĩa NKT riêng đƣợc ghi nhận trong pháp luật quốc gia đó. Trong điều 2 Luật của nƣớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ ngƣời khuyết tật năm 1990: Ngƣời khuyết tật là một trong những ngƣời bị bất thƣờng, mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng, tâm lí hay sinh lí, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những ngƣời đã mất toàn bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động một cách bình thƣờng. Ngƣời khuyết tật là những ngƣời có thính giác, thị giác, lời nói hoặc khuyết tật về thể chất, chậm phát triển tâm thần, rối loạn tâm thần, khuyết tật nhiều và/ hoặc khuyết tật khác [4, Điề u 2]. Còn theo quy định trong khoản 1 Điều 1 Công ƣớc số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm của NKT năm 1983, quy định: “Người khuyết tật dùng để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ 7 lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất và tâm thần được thừa nhận” [20, Điề u 1].
Ngày 17/6/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật NKT, có hiệu lực từ 01/01/2011, chính thức sử dụng khái niệm “Ngƣời khuyết tật” thay cho khái niệm “Ngƣời tàn tật”, phù hợp với khái niệm và xu hƣớng nhìn nhận của thế giới về vấn đề NKT. Theo đó thì: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [19, Điề u 2]. Ở đây ta có thể hiểu NKT bao gồm cả những ngƣời bị khuyết tật bẩm sinh, ngƣời bị khiếm khuyết do bệnh tật, tai nạn, thƣơng binh, bệnh binh. Nhƣ vậy, Luật ngƣời khuyết tật Việt Nam đã đƣa ra khái niệm NKT dựa vào mô hình xã hội, tuy nhiên còn chung chung so với khái niệm NKT của Công ƣớc về quyền của NKT Nhƣ vậy, ta có thể thấy định nghĩa về NKT dù tiếp cận dƣới bất cứ góc độ nào, nhất thiết phải phản ánh thực tế là NKT có thể gặp các rào cản do yếu tố xã hội, môi trƣờng hoặc con ngƣời khi tham gia vào mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội.
Họ phải đƣợc đảm bảo rằng họ có quyền và trách nhiệm tham gia vào mọi hoạt động của đời sống nhƣ bất cứ công dân nào với tƣ cách là các quyền của con ngƣời.Với cách tiếp cận đó, có thể hiểu định nghĩa ngƣời khuyết tật theo quy định của Công ƣớc quốc tế về quyền của NKT nhƣ sau: Ngƣời khuyết tật bao gồm những ngƣời bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hƣởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của những ngƣời khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những ngƣời khác [13, Điề u 1]. Khái niệm quyền dân sự của người khuyết tật 8 Theo Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 của UN thì quyền dân sự, chính trị của mỗi con ngƣời đƣợc xem là giá trị của tất cả mọi ngƣời mà nhà nƣớc phải tôn trọng và bảo vệ. Theo đó, ta có thể hiểu Quyền dân sự là những quyền gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao cho ngƣời khác đƣợc nhƣ quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân, quyền không bị bắt làm nô lệ, quyền không bị tra tấn, quyền đƣợc đối xử nhân đạo, quyền kết hôn và xây dựng gia đình, quyền có tài sản riêng. Đây là những quyền quan trọng của mỗi công dân và bản thân những NKT cũng là những công dân bình thƣờng nên họ cũng có đầy đủ các quyền này, các quyền này của NKT cũng đƣợc nhà nƣớc tôn trọng, bảo vệ và tạo những điều kiện thuận lợi nhất để NKT thực hiện đƣợc các quyền này một cách tốt nhất.
Trong lịch sử nhân quyền thì các quyền dân sự ra đời khá sớm, trong các văn kiện pháp luật của các nƣớc từ thời xa xƣa đã chứa đựng nhiều nội dung quy định về việc bảo vệ các quyền sống, quyền an toàn cá nhân,.Sau khi UN ra đời và thông quan bản Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền đã càng khẳng định các quyền phổ quát cho toàn nhân loại, trong đó ghi nhận các quyền dân sự bên cạnh các quyền khác của con ngƣời. Về sau các quyền này đƣợc tái khẳng định và cụ thể hóa trong nhiều văn kiện quốc tế khác mà đặc biệt là trong Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) năm 1966. Các quyền dân sự cụ thể đƣợc quy định trong Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) năm 1966 áp dụng chung cho tất cả mọi ngƣời trong đó bao gồm cả nhóm NKT, bao gồm các quyền nhƣ: Quyền không bị phân biệt đối xử, đƣợc thừa nhận và bình đẳng trƣớc pháp luật; Quyền sống, tự do và an ninh cá nhân; Quyền về xét xử công bằng; Quyền về tự do đi lại, cƣ trú; Quyền đƣợc bảo vệ đời tƣ; Quyền tự do tƣ tƣởng, tín ngƣỡng, tôn giáo; Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân; Đây là các quyền cá nhân cơ bản của mỗi công dân. Các quyền dân sự này có những đặc điểm riêng so với các quyền khác.
9 Quyền dân sự thực chất là các quyền tự do cá nhân. Chủ thể quyền quyền dân sự tự mình thực hiện quyền của mình một cách tự do và bình đẳng với các chủ thể khác.