Chương 1 QUYỀN CON NGƢỜI VÀ VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm quyền con ngƣời và việc bảo vệ quyền con ngƣời của bị can, bị cáo trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 1. Khái niệm quyền con người Quyền con người (Human Rights) chính là sự kết tinh của những giá trị văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới. Ý thức về quyền con người và việc thực hiện quyền con người là một quá trình phát triển lâu dài gắn với lịch sử phát triển của loài người qua các hình thái kinh tế - xã hội nhất định cho đến khi quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại như hiện nay.
Khát vọng bảo vệ nhân phẩm của tất cả con người là cốt lõi của khái niệm quyền con người. Nó coi con người là trọng tâm của sự quan tâm. Nó dựa trên một hệ thống giá trị toàn cầu phổ biến nhằm hướng đến những giá trị cao quý của cuộc sống và tạo ra một khuôn khổ để xây dựng hệ thống quyền con người, được các quy phạm và tiêu chuẩn quốc tế bảo vệ. Kể từ khi được Liên Hợp Quốc chính thức thừa nhận vào năm 1948, với sự ra đời của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (Universal Declaration of Human Rights), quyền con người đã phát triển như một khuôn khổ đạo đức, chính trị, pháp lý và như một định hướng nhằm phát triển một thế giới tự do khỏi sợ hãi và tự do làm điều mong muốn.
Ngày nay quyền con người được thừa nhận là một khái niệm toàn cầu như được ghi nhận trong tuyên bố của Hội nghị thế giới Vien (Áo) về quyền con người năm 1993 và các nghị quyết của Liên Hợp Quốc đã được thông qua nhân kỷ niệm 50 năm ngày ra đời của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (1948 - 1998). 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên cho đến nay, cách hiểu khái niệm về quyền con người vẫn chưa có sự thống nhất. Một mặt, đang còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc, bản chất của quyền con người. Mặt khác, quyền con người được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau như: triết học, đạo đức, chính trị, pháp luật,….
Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyền con người. Tùy vào cách nhìn nhận của mỗi người, từng lĩnh vực nghiên cứu mà quyền con người được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên ở cấp độ quốc tế, định nghĩa phổ biến nhất vẫn là định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về quyền con người (OHCHR). Theo định nghĩa này: Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm người chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người [39, tr.
Và Quyền con người là những quyền bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được hưởng chúng ta không thể sống như một con người [47, tr. Trong một số tác phẩm, quyền con người được tiếp cận dưới góc độ là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế [21, tr. Từ các định nghĩa trên có thể nhận thấy: Quyền con người là những quyền vốn có của con người, không phân biệt quốc tịch, nơi cư trú, giới tính, nguồn gốc quốc gia hay dân tộc, màu da, tôn giáo, ngôn ngữ hay bất kỳ một thân phận nào khác. Mọi người được hưởng các quyền của mình một cách bình đẳng và không có sự phân biệt đối xử.
Những quyền này có mối quan hệ, phụ thuộc lẫn nhau và không thể tách rời. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, cả định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về quyền con người và định nghĩa của một số nhà nghiên cứu Việt Nam thì quyền con người đều được tiếp cận dưới góc độ là những quyền tự nhiên, vốn có nhưng phải được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền con người được coi là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận, tuân thủ và được áp dụng chung cho tất cả mọi người trên thế giới. Các chuẩn mực này là căn cứ để mọi thành viên trong gia đình nhân loại được bảo vệ nhân phẩm, phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người.
Quyền con người mang tính phổ quát và bất khả xâm phạm. Tính phổ quát của quyền con người thể hiện ở chỗ nó được hầu hết các quốc gia trên thế giới công nhận và tuân thủ. Quyền con người là bất khả xâm phạm, không bị tước đoạt, ngoại trừ trong các tình huống cụ thể và theo đúng với quy định của pháp luật quốc gia, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Ví dụ, quyền tự do có thể bị hạn chế nếu một người bị kết án là phạm tội theo quy định của pháp luật bởi một bản án của Tòa án có thẩm quyền.
Do đó, về bản chất quyền con người không chỉ thuần túy là những quyền tự nhiên mà nó đặt vào tổng hòa các mối quan hệ xã hội, chịu sự ràng buộc của xã hội, gắn với quá trình chinh phục tự nhiên và phát triển xã hội. Vì thế, có thể đưa ra khái niệm quyền con người như sau: Quyền con người là những đặc lợi vốn có của tự nhiên mà chỉ con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định. Khái niệm, sự cần thiết bảo vệ quyền con người của bị can, bị cáo trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 1. Khái niệm bảo vệ quyền con người của bị can, bị cáo trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Trong lịch sử pháp luật TTHS trước đây, vị trí pháp lý của bị can, bị cáo thường bị coi là có tội và khi đã bị coi là có tội thì mặc nhiên số phận của 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com họ là số phận của kẻ bị tước phần lớn quyền công dân.
Tuy nhiên, hiện nay, với nguyên tắc coi bị can, bị cáo là những người chưa có tội nên pháp luật TTHS đã dành cho họ nhiều quyền trong suốt giai đoạn tố tụng, để hiểu rõ vấn đề này, tác giả xin nêu và phân tích một số khái niệm dưới đây: * Khái niệm quyền con người trong tố tụng hình sự Không phổ biến, không rộng lớn, không diễn ra hàng ngày hàng giờ như các lĩnh vực hành chính, kinh tế, môi trường…. TTHS là lĩnh vực hoạt động nhà nước nhạy cảm liên quan đến quyền con người. Hơn ở đâu hết quyền con người trong TTHS, đặc biệt là của bị can, bị cáo, dễ bị xâm phạm và bị tổn thương nhất và hậu quả để lại cũng nghiêm trọng nhất khi nó động chạm đến quyền được sống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của một cá nhân. Khi nói đến quyền con người trong pháp luật TTHS đa số các học giả đều thừa nhận rằng đó là nhóm quyền dân sự và chính trị.
Theo các văn bản quốc tế thì quyền con người của người bị buộc tội trong TTHS về cơ bản gồm hai lĩnh vực: 1/Các quyền an toàn cá nhân; 2/Quyền được xét xử công bằng. Trên cơ sở những đặc điểm của quyền con người nói chung, quyền con người của bị can, bị cáo nói riêng trong TTHS, có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về quyền con người trong TTHS, có ý kiến cho rằng: Quyền con người trong tố tụng hình sự là các quyền thuộc tổng hợp nhóm quyền dân sự, chính trị nhằm mục đích khẳng định việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tôn trọng danh dự, nhân phẩm của con người trong mọi hoàn cảnh cũng như bảo đảm việc xét xử công bằng bởi một Tòa án độc lập khách quan đối với những người yếu thế (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án và những người tham gia tố tụng khác) khỏi sự tùy tiện và sự lạm quyền của cơ quan và nhân viên nhà nước trong các hoạt động tố tụng hình sự [7, tr. Cũng đưa ra khái niệm quyền con người trong TTHS, thạc sĩ Đinh Thế 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hưng lại định nghĩa theo hướng rộng hơn: “Quyền con người trong tố tụng hình sự là những giá trị thiêng liêng chỉ dành cho con người khi họ tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự mà nhà nước có nghĩa vụ phải ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm thực hiện và bảo vệ khi bị xâm hại” [19, tr. Tùy theo cách tìm hiểu của từng người mà chúng ta xây dựng khái niệm theo quan điểm của mình.
Theo ý kiến của tác giả thì dưới góc độ khoa học quyền con người của bị can, bị cáo đó là: Những quyền con người cần phải được bảo vệ trong hoạt động TTHS, được ghi nhận trong pháp luật quốc gia phù hợp với tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế và có cơ chế bảo đảm thực hiện. * Khái niệm quyền con người trong tố tụng hình sự Không phổ biến, không rộng lớn, không diễn ra hàng ngày hàng giờ như các lĩnh vực hành chính, kinh tế, môi trường…. TTHS là lĩnh vực hoạt động nhà nước nhạy cảm liên quan đến quyền con người. Hơn ở đâu hết quyền con người trong TTHS, đặc biệt là của bị can, bị cáo, dễ bị xâm phạm và bị tổn thương nhất và hậu quả để lại cũng nghiêm trọng nhất khi nó động chạm đến quyền được sống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của một cá nhân.
Khi nói đến quyền con người trong pháp luật TTHS đa số các học giả đều thừa nhận rằng đó là nhóm quyền dân sự và chính trị. Theo các văn bản quốc tế thì quyền con người của người bị buộc tội trong TTHS về cơ bản gồm hai lĩnh vực: 1/Các quyền an toàn cá nhân; 2/Quyền được xét xử công bằng.