Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE VAN DE BẢO DAM AN SINH XÃ HOI TRÊN BÁO CHÍ 1. Một số khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu 1. Van dé bảo đảm an sinh xã hội “Van dé”, theo từ điển tiếng Việt có nghĩa là sự việc quan trọng, là điều cần được nghiên cứu, thảo luận, xem xét, giải quyết. Có loại vấn đề được xác định rõ ràng, nhưng cũng có loại vấn đề không được xác định rõ ràng.
Tắt cả các loại vấn đề đều có cách tiếp cận, xem xét, giải quyết phù hợp. Đối với những vấn đề được xác định rõ thì có mục tiêu cụ thể, các giải pháp giải quyết van đề dự kiến cũng cụ thé. Đồng thời, có thé lập kế hoạch ban đầu dé giải quyết với nhiều giải pháp hơn so với những vấn đề không được xác định rõ. Giải quyết vấn đề là việc sử dụng các phương pháp một cách hợp lý để tìm những giải pháp, quy tắc có thé áp dụng, đại diện cho “chìa khóa” để giải quyết vấn đề.
Giải quyết vấn đề đôi khi đòi hỏi tư duy trừu tượng hoặc phải đưa ra giải pháp sáng tạo. “Báo dam”, theo từ điển tiếng Việt là sự cam kết chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được. Ví dụ, bảo đảm hoàn thành kế hoạch; bảo đảm quyền dân chủ. “ASXH” theo nghĩa tiếng Anh là Soccial Security.
Còn cụm từ tiếng Pháp Sécruité Sociale dịch ra nghĩa tiếng Việt theo nhiều nghĩa, như: bảo đảm xã hội, an ninh xã hội, an toàn xã hội,. Theo nghĩa của từ Han - Việt: An trong chữ “an toàn”, sinh trong chữ “sinh sống”, “sinh nhai”, “sinh ton”. Do vậy, an sinh có thể hiểu là an toàn sinh sống. Xã hội an sinh là xã hội con người được sống an toàn hay có cuộc sống an toàn.
ASXH được coi như là tắm lưới, một chiếc ô che chăn cho sự an toàn xã hội va con người. Thuc té cho thay, ASXH là sự bảo vệ của xã hội đối với mọi người dân thông qua các chính sách, giải pháp phòng ngừa, giảm thiêu và khắc phục các rủi ro hoặc tác động bất thường của tự nhiên, xã hội, nhằm bảo đảm cuộc sống cho mọi thành viên, nhất là người nghèo, người có thu nhập thấp, giúp họ 6n định cuộc sống, hòa nhập cộng dong. Hệ thong ASXH gom nhiều chế độ, chính sách; trong đó, mỗi chế độ, chính sách đều có vai trò, chức năng và phạm vi hoạt động riêng, mang tính kết hợp nhằm tạo ra 11 mạng lưới ASXH rộng khắp, bao trùm lên toàn bộ dân cư của một quốc gia. Mục tiêu của hệ thống ASXH một quốc gia là nhằm bảo vệ mọi thành viên của quốc gia mình trước những rủi ro bằng những biện pháp thích hợp.
Theo đó, “Bao đảm an sinh xã hội” được hiểu là sự cam kết, khẳng định trách nhiệm của Nhà nước đối với việc chăm lo, bảo vệ cuộc sống, an sinh hạnh phúc của mọi người dân trong xã hội. Báo chí và vấn đề bảo đảm an sinh xã hội trên báo chí Trong thực tế, có nhiều cách định nghãi khác nhau về “báo chí”. Theo Từ điển tiếng Việt (Ban biên soạn từ điển New Era), “báo” có nghĩa là thông báo, nói cho biết; tin tức, giấy in các tin tức; “chí” có nghĩa là ghi chép, viết thành bài văn, sách ghi chép về một vấn đề gì [1, tr. Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, “báo” xuất bản định kỳ trên giấy khổ lớn, đăng tin bài, tranh ảnh dé thông tin, tuyên truyền; là hình thức thông tin tuyên truyền có tính chất quần chúng và nội bộ, bằng các bài viết, tranh vẽ trực tiếp trên giấy; “báo chí” là báo và tạp chí xuất bản định kỳ; xuất bản phẩm định kỳ” [39, tr.
Trong cuốn “Báo chí và mạng xã hội”, do PGS.TS Đỗ Chí Nghĩa và PGS. TS Dinh Thị Thu Hang biên soạn, phan tích: Theo quan niệm từ trước đến nay, báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng, truyền tải những thông tin thời sự có tính định kỳ đến đông đảo công chúng. Đặc điểm nỗi bật của báo chí chính là tính công khai và sự lan tỏa nhanh chóng, rộng khắp. Báo chí phải gắn liền với thông tin thời sự, những vấn dé, sự kiện diễn ra hằng ngày, hằng giờ cần sự phản ánh, phân tích, mô xẻ của báo chí nhằm rộng đường dư luận.
Những thông tin kinh tế, cơ hội đầu tư, làm ăn, việc làm. cần thiết cho nhiều người. Việc ra đời của báo mạng điện tử làm cho yếu tố định kỳ của báo chí bị phá vỡ, các tác giả đưa ra định nghĩa về báo chí như sau: “Báo chí là loại hình các phương tiện truyền thông đại chúng được cơ quan thâm quyền cấp phép hoạt động, có nhiệm vụ chuyền tải thông tin nhanh nhất, mới mẻ nhất đến đông đảo công chúng, nhằm tích cực hóa đời sống thực tiễn” [42, tr. Trong cuốn “Báo chí và dư luận xã hội”, xuất bản năm 2012, PGS.TS Nguyễn Văn Dững phân tích: Theo nghĩa hẹp, khái niệm báo chí được hiểu là những ấn pham và tạp chí; theo nghĩa rộng, báo chí bao gồm các loại hình: báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử.
Một số trường hợp đồng nhất báo chí với truyền thông đại 12 chúng. Các đại biểu giai cấp tư sản (phương Tây) và các đại biéu của giai cấp vô sản quan niệm về báo chí khác nhau. Không ít học giả phương Tây coi báo chí là phương tiện thông tin trung lập, thông tin sự kiện, khách quan, độc lập và không phụ thuộc vào chính trị, “không can dự vảo cuộc đấu tranh giai cấp”. Tuy nhiên trên thực tế, xã hội tư bản, giai cấp tư sản đã và đang sử dụng báo chí như một công cụ chính trị hữu hiệu nhất trong cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng [20, tr.
Còn giai cấp vô san, theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin, coi báo chí là công cụ tuyên truyền, là phương tiện đấu tranh giai cấp trên mặt trận tư tưởng. Tiếp cận từ quan điểm hệ thống, PGS.TS Nguyễn Văn Dững nhìn nhận báo chí như một tiểu hệ thống cấu thành hệ thống xã hội, trong đó, báo chí là một bộ phận cau thanh va chiu su chi phối của hệ thống lớn, cũng như tác động của các tiêu hệ thống (hoặc hệ thống con). Các thành tố và mối quan hệ giữa các thành tố trong khái niệm báo chí, bao gồm: Quyền lực chính trị tối cao - quyền lực nhà nước; cơ quan chủ quản (cơ quan hay người sáng lập); nhà báo - chủ thể trực tiếp hoạt động báo chí; sản pham báo chí; kênh truyền tải; công chúng; các tô chức chính trị - xã hội, thực tiễn đời sống xã hội. Tác giả đúc kết: Báo chí là một hiện tượng xã hội luôn tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thé dưới sự tác động và chi phối trực tiếp của thiết chế chính trị, quyền lực chính trị; được sự hỗ trợ tối đa của các phương tiện kỹ thuật và công nghệ, nhất là công nghệ tin học [20, tr.
Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta (Điều 3, Luật báo chí năm 2016) “Báo chí là sản pham thông tin về các sự kiện, vấn dé trong đời sống xã hội thé hiện bang chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, bao nói, báo hình, báo điện tử” [40, tr. Theo cách giải thích của Luật bao chi 2016, báo in là loại hình báo chi sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện băng phương tiện In để phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chi in. Báo nói là loại hình bao chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau. Báo hình là loại hình báo chí sử dụng hình ảnh là chủ yếu, kết hợp tiếng nói, âm thanh, chữ viết, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau.
Báo điện tứ là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được 13 truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử. Với góc độ pháp luật, Luật báo chí năm 2016 khăng định: “Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của nhân dân” [40. Như vậy, “Vấn đề bảo đảm an sinh xã hội trên báo chí” được hiểu là sự việc quan trọng, bao quát toàn bộ các lĩnh vực liên quan đến sức khỏe, cuộc sống của con người, những vấn đề thiết yếu của đời sống xã hội; là những nội dung được các cơ quan báo chí quan tâm phản ánh, chuyên tải. Báo chí là cầu nối, diễn đàn của Nhân dân, đáp ứng nhu cầu cần được thông tin bảo đảm ASXH của công chúng.
Thông tin báo chí Khái niệm “thông tin” được bắt nguồn từ chữ Latinh. Hai ông Philippe Breton và Serge Proulx trong cuốn sách “Bung nổ truyền thông” (Philippe Breton, Serge Proulx: Bung nỗ truyền thông, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1996) giải thích rang: Khái niệm có hai hướng nghĩa: Thứ nhất là, nói về một hành động cụ thé dé tạo ra một hình dạng (forme), thứ hai là, nói về sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay biểu tượng. Hai hướng nghĩa này cùng tồn tại, một nhằm vao sự tạo lập cụ thể, một nhằm vào sự tạo lập kiến thức và truyền đạt, đây là tiêu biểu cho sự phát minh của tiếng Latinh. Nó thé hiện sự gắn kết của hai lĩnh vực kỹ thuật và kiến thức [48, tr.
Trong lý luận báo chí, khái niệm “thông tin” cũng đang tồn tại hai cách hiểu: Một là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực cuộc sông. Hai là, sự loan báo cho mọi người biết. Theo cách hiéu thứ nhất, thông tin thé hiện tinh chất khởi đầu, khởi điểm. Đây là một đặc trưng cơ bản của báo chí nói chung.
Còn theo cách hiểu thứ hai là sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện có dé truyền đạt kết quả sáng tạo của nhà báo ra thế giới xung quanh. Trong hoạt động báo chí, thông tin là công cụ chủ yêu dé nhà báo thực hiện mục đích của mình. Thông tin trở thành “cầu nối” giữa báo chí và công chúng. Thông tin là “dụng cụ làm việc” của nhà báo.