CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÍ LUẬN VÀ THựC TIỄN CỦA VÁN ĐÈ PHÒNG CHÓNG MA TÚY Ở VÙNG TÂY BẤC VIỆT NAM TRÊN SÓNG TRUYÈN HÌNH 1. Một số khái niệm, thuật ngữ có liên quan đến đề tài 1. Ma tủy Ma túy là một thuật ngữ được đề cập trong nhiều tài liệu song xung quanh thuật ngữ này hiện vẫn đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau: Ma túy theo nghĩa gốc Hán - Việt được hiểu là “mê mân”, nhằm để chỉ các chất gây nghiện. Theo cách hiểu này thì các chất ma túy được định nghĩa như là các chất độc có tính gây nghiện, có khả năng bị lạm dụng.
Sự nghiện ngập chính là biếu hiện của trạng thái bị ngộ độc mãn tính do các chất ma túy gây nên cho người sử dụng chúng. Theo Từ điển Tiếng Việt, khái niệm “ma tủy” mới được đề cập đến trong thời gian gần đây, song vấn đề nhận thức thuật ngữ này vẫn đang còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau. Nhưng hiểu đon giản “ma tủy là chất kích thích lẩy từ Cần sa, tên thường gọi chung các chat cỏ tác dụng gây trạng thải ngây ngất, đờ đẫn, dùng quen thành nghiện” [33, tr. 324], Theo tổ chức Y tế thế giới WHO năm 1982, thì ma túy hiểu theo nghĩa rộng là “các chất có nguồn gốc từ tự nhiên hay tông họp khỉ xâm nhập vào CO’ thế con người sẽ gây ra tác dụng làm thay đôi trạng thái ỷ thức, trí tuệ, tâm trạng của người đó.
lịch sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ làm cho người đó lệ thuộc vào nỏ, dẫn đến tôn thương bản thân người sử dụng ma tủy và gây nguy hại cho cả nhân, cộng đồng Theo chương trình kiểm soát ma túy quốc tế của Liên họp quốc (UNDCP) những nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo. Khi xâm nhập vào cơ thê con người có tác dụng làm thay đôi tâm trạng, ỷ thức, trí tuệ, làm cho con người bị lệ thuộc vào chủng, gây nên những tôn thương cho cả nhân người sử dụng và cả cộng đồng”. Theo khoản 1, điều 2 Luật phòng chổng ma tủy (2000) đã đưa ra một số định nghĩa về ma tuý hoặc có liên quan đến khái niệm ma tuý như sau: “Chat ma tuỷ là chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành; Chat gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đổi với người sử dụng; Chat hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gầy ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện với người sử dụng; Tiền chất là các chất không thể thiếu được trong quả trình điều chế, sản xuất ma tuỷ được quy định do Chính phủ ban hành; Thuốc gây nghiện, hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh được quy định trong danh mục do Bộ Y tế do Chỉnh phủ ban hành; Người sử dụng ma tuỷ là người sử dụng chất ma tuỷ, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào chất này” [23, tr. 1], Ma túy hay còn gọi là hàng đá, chất đá là tên gọi chỉ chung cho các loại ma túy tổng họp, có chứa chất Methylphenidate và Amphetamin thậm chí là Niketamine phối trộn phức tạp từ những nguyên liệu tự nhiên và hóa chất khác nhau trong đó thành phần chính, phổ biến là Methamphetamine.
Loại ma túy này được giới sử dụng gọi là “đá” vì hình dạng bên ngoài trông giống đá - là tinh thế kết tinh thành những mảnh vụn li ti, gần giống với hạt mì chính (bột ngọt) hoặc giống hạt muối và ngành giống đá. Ngoài dạng phổ biến trên, ma túy đá còn bán bất họp pháp trên thị trường dưới dạng cục, bột, viên nén. Đây là một loại ma túy mới tồn tại dưới dạng thức tinh thể. Ma túy đá không chỉ được biết đến với tác dụng gây phê cho người nghiện mà còn là một loại thuốc khiến người dùng thèm muốn cả truyện quan hệ tình dục.
Nhiều người dùng ma túy đá để vui chơi hết mình, để chứng tỏ đẳng cấp mà không biết sự tàn phá của nó đối với sức khỏe đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến xã hội. Biểu hiện của những người thường xuyên sử dụng ma túy đá thường thấy như: chém, giết người vô cớ; cuồng dâm, hoang tưởng, mất kiểm soát hành vi và nặng hơn là mắc bệnh tâm thần và suy kiệt thể chất, khả năng tình dục. Như vậy, từ những khái niệm được trình bày ở trên đây, chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất với ma túy như sau: Ma tủy là các chất gây nghiện có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo, khỉ đưa vào cơ thể có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năng tâm - sinh lý của cơ thê. Dùng nhiều lần sẽ bị lệ thuộc cả về thê chất lẫn tâm lý, gây hậu quả nghiêm trọng cho bản thân, gia đình và xã hội.
Phòng, chống ma túy Theo Từ điên tiếng Việt, Nxb Trung tâm từ điển ngôn ngữ, năm 1992 có định nghĩa: “Phòng là liệu để có biện pháp tránh, ngăn ngừa, hoặc lâm thời đối phó với điều không hay có thể xảy ra” [33, tr. “Chong là hoạt động ngược lại, gây trợ lực cho hành động của ai, Hoặc do tác động của cái gì” [33, tr. Như vậy, phòng, chống có nghĩa là dùng các biện pháp, thách thức để gây ra sự cản trở đối với một hoạt động nào đó. Mục đích cuối cùng của hoạt động phòng, chống là không để cho hoạt động đó xảy ra, hoặc chí ít cũng gây ra những khó khăn, bất lợi cho hoạt động đó.
Vậy: PCMT cổ nghĩa là dùng nhiều biện pháp, cách thức nhằm ngăn ngừa sự xâm nhập của tệ nạn ma tủy vào đời sống cộng đồng, đê bảo vệ sức khỏe, những giá trị văn hóa, đạo đức và tài sản cho con người và xã hội. Từ các nội dung trên, có tuyên truyền phòng chống ma túy cho người dân là như sau: Tuyên truyền phòng chong ma túy cho người dân là một hoạt động cỏ chủ đích của chủ thê tuyên truyền, tác động một cách trực tiếp hoặc giản tiếp đến đối tượng tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về tác hại của ma tủy; hình thành thái độ và tích cực hành động ở đổi tượng tuyên truyền trong việc phòng chổng với ma tủy. Tuyên truyền vận động Tuyên truyền vận động là các hoạt động nhằm lôi cuốn sự chú ý của xã hội, vận động của các nhà chức trách thay đổi, bổ sung, hoặc tăng cường các chủ trương, chính sách, chương trình và giải pháp về vấn đề gì đó, đồng thời tuyên truyền vận động còn nhằm xây dựng ý thức tự giác trong nhân dân. Mục đích chung của tuyên truyền vận động trên các phương tiện thông tin đại chúng là để tới được các tổ chức, các nhà hoạch định chính sách và các đối tượng ảnh hưởng tới việc đưa ra quyết định, tạo nên một trào lưu xã hội, một hiệu ứng xã hội tới một vấn đề, một quyết định nào đó.
Trong tuyên truyền có rất nhiều cấp độ khác nhau: Cấp độ thứ nhất: cá nhân với gia đình, bạn bè. Cấp độ thứ hai: tuyên truyền vận động tại cộng đồng. Cấp độ thứ ba: tuyên truyền vận động trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Trong ba cấp độ tuyên truyền thì tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng là cấp độ cao nhất và nó mang lại hiệu quả lớn nhất.
Vậy vấn đề tuyên truyền phòng chống ma túy trên sóng Đài PT-TH vùng Tây Bắc có thế được hiểu là hình thức tuyên truyền trên các phương tiện thông đại chúng, trong đó có nội dung thông tin liên quan đến công tác đấu tranh phòng chống ma túy được chuyển tải dưới nhiều chương trình, bản tin, và dưới nhiều thể loại tác phẩm báo chí để chuyển tải đến công chúng thông qua kênh báo PT-TH, với mục đích góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh PCMT. Quan điểm của Đăng, chính sách pháp luật của Nhà nước về phòng chổng ma túy 1. Đường lối quan điểm của Đảng về phòng chống ma túy Trong những năm qua, các tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn ma túy đang trở thành một trong những vấn đề gây nhức nhối trong XH, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, giống nòi, phẩm giá con người, hạnh phúc gia đình và trật tự, an toàn XH, an ninh quốc gia. Trước thực trạng trên, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành nhiều phương tiện và phương pháp khác nhau để kiên quyết đấu tranh nhằm ngăn chặn từng bước, tiến tới loại trừ các tệ nạn XH, nhất là tệ nạn ma túy.
Ngay từ khi tổng khởi nghĩa giành chính quyền, ngày 02/09/1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời và trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch rõ âm mưu thâm độc của bọn thực dân Pháp: • • » • • 1 “chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn, để làm cho lời giống ta suy nhược”. Ngày 05/03/1952 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 150/TTg quy định việc xử lý đối với những hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện như sau: “tịch thu thuốc phiện tàng trữ vận chuyên trái phép, phạt tiền từ 1 đến 5 lần giá trị thuốc phiện lậu. Người vi phạm có thê bị truy tổ trước tòa án nhân dần”. Đảng và Nhà nước ta còn có thái độ kiên quyết hơn trong đấu tranh phòng, chống ma túy thể hiện trong Bộ luật hình sự năm 1985, Hiến pháp năm 1992, Bộ luật hình sự năm 1999.
Ngày 09/12/2000, Quốc hội nước CHXHCNVN đã ban hành Luật số:23/2000/QH10 về “Phòng, chống ma túy” và Luật số 16/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2000 về “Sửa đoi, bổ sung một sổ điều của Luật phòng, chổng ma tuý”. Đảng ta luôn quan tâm đến việc PCMT để xây dựng một XH phát triển bền vững, an toàn và lành mạnh cho mọi người. Quan điểm của Đảng ta với vấn đề này là kiên quyết, không khoan nhượng và xác định đây là một cuộc đấu tranh quyết liệt, bền bỉ, đầy gian khổ, cần có các giải pháp đồng bộ để huy động sức mạnh của toàn dân. Vì lẽ đó, Đảng ta ban hành nhiều chỉ thị về lãnh đạo phòng chống các tệ nạn XH, nhất là nạn ma túy.
Chỉ thị số 33/CT-TW ngày 01/3/1994 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ: “Phòng, chong, khắc phục có hiệu quả các tệ nạn xã hội, trước hết là nạn mại dâm, nghiên ma tủy là một nhiệm vụ cấp bách hiện nay mà Đảng và Nhà nước ta phải kiên quyết lãnh đạo thực hiện đê có bước tiến bộ rõ rệt ngày từ năm 1994” [4, tr.