Chương 1: BEN TRE MANH DAT QUẬT CƯỜNG VA VAI TRÒ CUA BAO CHÍ CÁCH MẠNG 1. Một số khái niệm 1. Báo chí Cách mạng Báo chí Cách mạng Việt Nam ra đời với dau mốc là tờ Thanh Niên do lãnh tu Nguyễn Ai Quốc sáng lập. Từ khi ra đời, Báo chí Cách mạng được cắt nghĩa đơn giản mà lớn lao: “Tuyên truyền dé giai cấp biết mục đích.
Từ tuyên truyền dé giai cấp biết mục đích, gắn với tuyên truyền Chủ nghĩa Mác - Lênin, rồi đấu tranh không khoan nhượng bảo vệ lý tưởng cộng sản. Chặng đường mà Báo chí Cách mạng đi qua gắn với những mốc son sáng chói của lịch sử cách mạng dân tộc: từ khi vận động thành lập Đảng, tới huấn luyện cán bộ, chuẩn bị cơ sở lý luận, chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3-2-1930, cô vũ nhân dân làm nên các cao trào cách mạng, tiến tới tong khởi nghĩa giảnh chính quyền Tháng Tám năm 1945, tiếp đó là vũ khí đấu tranh sắc bén trên mặt trận chính trị - tư tưởng, cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đi vào các cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thu giang sơn về một mối, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, tiếp tục thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Về tôn chỉ, mục đích của Báo chí Cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hoà bình thế giới”, suy rộng ra là phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và đóng góp tích cực cho hòa bình thế giới vì mục tiêu của thời đại là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Về vai trò, nhiệm vụ của báo chí cách mạng, Người cho rằng, nhiệm vụ Báo chí Cách mạng là phải đi tiên phong trong đấu tranh không khoan nhượng với những gi đi ngược lại quy luật của lịch sử, vạch trần tính chất phản động, giả dối, 12 bịp bợm của kẻ thù.
Tính chiến đấu không chỉ nhằm tiến công vào kẻ thù của cách mạng, mà còn biểu dương những tam gương tiêu biểu trong chiến đấu và lao động để cô vũ mọi người hăng hái tham gia cách mạng. Đồng thời, Người đề nghị báo nên có mục “ý kiến bạn đọc”, coi ý kiến bạn đọc là những ý kiến đấu tranh. Cái mới dau tranh với cái cũ, cái tốt dau tranh với cái không tốt. Trong biểu đương, phải rút ra được kinh nghiệm có ý nghĩa phổ biến, phê bình phải cụ thể, rõ ràng.
Phê bình và tự phê bình là biện pháp tăng cường tính chiến đấu, vì phê bình và tự phê bình là vũ khí rất cần thiết và rất sắc bén, nó giúp chúng ta sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm. Về tính Đảng của Báo chí Cách mạng, đây là điều căn cốt nhất để phân biệt Báo chí Cách mạng với báo chí phản cách mạng. Người cho rằng, báo chí chỉ đúng về chính trị khi nó được lãnh đạo của một đảng, dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, một đảng mang bản chất của giai cấp công nhân và gắn bó mật thiết với dân tộc, với nhân dân. Người luôn nhắn mạnh: Báo chí phục vụ ai? Đăng sau lời chỉ dẫn của Người: báo chí của ta phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ cho đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội, cho hoà bình thế giới là nguyên tắc: Đảng phải lãnh đạo báo chí.
Nhà bao cách mang Hồ Chí Minh quan niệm: Nhà báo trước hết là người cán bộ cách mạng, gan cuộc đời mình với dân tộc, trung thành với Đảng, với Tổ quốc. Người khăng định: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Do đó, khi nói “Can bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mang”, Bác đã đặt những người làm báo cùng chung “chiến hào” với các “binh chủng” khác của trí thức - văn nghệ kháng chiến.
Nhưng hoạt động báo chí lại có đặc thù riêng. Người cán bộ báo chí phải đáp ứng những yêu cầu của một nghé gắn liền với chính tri, gắn liền với hiện thực. Người nhắc nhở: “Tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành.) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ.
Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho 13 nên các báo của ta đều phải có đường lối chính trị đúng”. (Nhà báo và sáng tạo báo chí trong Tư tưởng Hồ Chí Minh của TS. Đỗ Chí Nghĩa, NBX Thông tin và Tuyền thông).
Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu rất cao về nhận thức chính trị của cán bộ báo chí, những người “tuyên truyền, giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ”. Quan điểm chính trị của người làm báo phải vững vàng, song không có nghĩa là cứng nhắc. Hồ Chí Minh từng chỉ ra những thiếu sót trong công tác tuyên truyền như bệnh theo “sáo cũ”, “nói không ai hiểu”. Người cán bộ báo chí nắm vững chính trị là để vận dụng vào hoạt động nghề nghiệp một cách linh hoạt, phù hợp, chứ không tự biến mình thành ông “cán bộ tuyên huấn thứ hai”, rao giảng, thuyết giáo dài dòng.
Hồ Chí Minh đặt nhà báo cách mạng trước yêu cầu bức xúc là phải làm tròn nhiệm vụ cách mạng. Có thé coi đây là biểu hiện cao nhất của việc nắm vững đường lối chính trị. Tại Đại hội lần thứ II của Hội Nhà báo Việt Nam (1959), Bác dạy: “Nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình”.
Đến Đại hội lần thứ II của Hội Nhà báo Việt Nam (1962), Bác lại nói: “Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng. Đạo đức đó là cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư”. Như vậy, từ yêu cầu về phẩm chat chính trị, Hồ Chí Minh đã đề cập đến một yêu cầu quan trọng nữa, đó là đạo đức cách mạng của cán bộ báo chí. “Người cách mang gặp khó khăn thì phải đánh thắng khó khăn”.
Một mệnh đề giản dị, dé hiểu, song lại hàm chứa những ý tưởng sâu sắc về pham chất người cán bộ báo chí cách mạng. Vượt qua khó khăn dé tiến lên, đó là biện chứng cách mạng. Trong những ngày tháng này, khi đại dich Covid-19 đang diễn biến vô cùng phức tạp, cùng với các lực lượng tuyến đầu như đội ngũ y, bác sĩ, lực lượng công an, quân đội, đội ngũ phóng viên báo chí chính là hình ảnh quen thuộc trên trận tuyến phòng, chống dịch nóng bỏng “như chống giặc”. 14 Dé có những dòng thông tin ấy, bao tòa báo đã nhanh chóng chuyển đổi phương thức làm việc để vừa đảm bảo an toàn, vừa đảm bảo dòng chảy thông tin về phòng, chống dịch và phát triển kinh tế - xã hội tới được với độc giả trong và ngoài nước.
Đã có những phóng viên phải thuê nhà trọ, tự cách ly để an toàn cho vợ con, sẵn sàng xa gia đình hàng tháng trời, ăn ở cùng người dân và các lực lượng y, bác sĩ chấp nhận nguy hiểm cận kè. Đó không gì khác, chính là “phụng sự nhân dân”, đến với nhân dân, với cuộc sống phập phông hơi thở, với những nỗi lo lắng, buôn vui, nụ cười, nước mắt của nhân dân mà Bác Hồ căn đặn người làm báo. Đó chính là báo chí chân chính đang thực hiện sứ mệnh thiêng liêng, to lớn của mình - của một nền Báo chí Cách mạng được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện, đó là phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc. Bến Tre và truyền thống đấu tranh chống thù trong giặc ngoài 1.
Thời phong kiến Trong khoảng thời gian trên đưới 300 năm, cuộc di dân người Việt đến vùng đất mới ở phương Nam diễn ra liên tục cùng với việc hình thành các thôn, ấp và sự thiết lập từng bước bộ máy hành chính các cấp của chính quyền phong kiến. Nhìn chung, các đợt chuyển cư từ miền ngoài, chủ yếu là các tỉnh miền Trung vào Đồng Nai - Gia Dinh trong thé kỷ XVII và đến giữa thé ky XVIII diễn ra không 6 ạt, nhưng tương đối đều đặn và liên tục. Số lưu dân đến định cư ở đây gồm hai luồng chính: luồng theo đường bộ từ hướng Bắc vào Đồng Nai và vùng Bến Nghé - Tân Bình được xem như một trạm “trung chuyên” lớn nhất trước khi tỏa về các địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long. Luéng này có nhiều hạn chế vì đường bộ lúc bấy giờ chưa được mở mang, nạn trộm cướp thường xuyên xảy ra, cho nên việc di chuyên không may an toàn.
Luéng thứ hai, đi đường biển bằng ghe bau theo gió mùa hàng năm. Các nhóm lưu dân vào các cửa sông như Soài Rạp, Cửa Tiểu, Cửa Đại rồi ngược dòng các sông lón, tiễn sâu vào nội địa, tỏa ra định cư ở các giông gò, vùng dat cao ráo có nước ngọt, ở hai bên rạch, bờ sông. 15 Cũng có những cuộc di chuyển do nhà nước đứng ra tổ chức “những người dân có vật lực ở xứ Quảng Nam, Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn vào Nam khai phá” như Lê Quý Đôn miêu tả trong cuốn “Phủ biên tạp lục”. Chính lực lượng này đã góp thêm nhân tố quan trong day nhanh tốc độ khai phá đất đai phát triển sản xuất.
Tổng hợp lại tất cả các nguồn tài liệu qua những chuyến điều tra khảo sat điền dã nhiều vùng khác nhau trong tỉnh, có thể xác định rằng nguồn gốc cộng đồng dân cư Bến Tre đa số ở miền Trung, đặc biệt từ phía Nam déo Hải Vân trở vào. Những lưu dân đến đây qua nhiều thế hệ, họ không chỉ mang theo lòng nhiệt huyết, kiến thức, kinh nghiệm sản xuất, mà còn mang theo những nét đẹp văn hóa trong nghỉ lễ, phong tục tập quán. đến vùng đất mới. Tất cả những yếu tố đó, tao nên cá tính của người Nam bộ nói chung và Bến Tre nói riêng, bộc trực, phóng khoáng, cởi mở, nghĩa hiệp, tự lực tự cường.
Trong quá trình khai phá đất hoang tạo lập thôn, ấp, làng, xã, cư dân đã giữ gin và phát triển các giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc.