CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE BAO CHÍ KINH TE VIỆT NAM DAU THE KY XX 1. Khái niệm về báo chi va báo chí kinh tế 1. Báo chí Hệ thống khái niệm về báo chí đã được rất nhiều học giả trong và ngoài nước khái quát trong nhiều tài liệu, sách, giáo trình và được luật hóa thành những điều trong các bộ luật như Luật Báo chí Việt Nam 2016. Trong nghiên cứu nay, học viên lựa chọn một số khái niệm chính, nhằm làm rõ những đặc trưng cơ bản của báo chí, như sau: “Bao chí như là một lĩnh vực hoạt động xã hội đặc biệt.
Ngành báo chí không sử dụng các phương tiện nào khác dé thực hiện vai trò xã hội của mình, ngoài thông tin.23|Hoạt động thông tin đại chúng là ban chất của ngành báo chi.53]” “Bản chất của báo chí truyền thông là hoạt động thông tin — giao tiếp xã hội trên quy mô rộng lớn nhất, là công cụ và phương thức kết noi xã hội hữu hiệu nhất, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và du luận xã hội, với nhân dân và với các nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế.87] “Báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng truyén tải thông tin các sự kiện, sự việc, hiện tượng đang diễn ra trong hiện thực khách quan một cách nhanh chóng, chính xác và trung thực đến đông đảo công chúng, nhằm tích cực hóa đời sống thực tiền.45] “Bao chí là sản pham thông tin về các sự kiện, ván dé trong đời sông xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sảng tạo, xuất bản định 14 kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình bao in, bao noi, bao hình, bao điện tr. [Diéu 3, Chuong I, Luat bao chi 2016] Những nguyên nhân kinh tế - xã hội là yêu tố quyết định sự xuất hiện của ngành báo chí. Toàn bộ các yếu tố kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội là động cơ thôi thúc việc truyền bá rộng rãi và thường xuyên các thông tin văn hóa, khoa học, thương mại, cũng như thông tin chính trị về tình hình trong nước và quốc tế. Các tờ báo in đã xuất hiện vào đầu thế kỷ XVII tại Đức, Anh và Pháp.
Những tờ báo đầu tiên chủ yếu là dành cho các thương gia, hàm chứa các tin tức về các con đường buôn bán, giá cả, tiễn trình buôn bán. Vào nửa sau thế kỷ XVII đã xuất hiện các tạp chí và bắt đầu xuất hiện báo ngày. Trong thế kỷ XVIII — đầu thế kỷ XIX báo chí phát triển chủ yêu dưới các hình thức gọi là “báo chí cá nhân”, khi người sáng lập và người lãnh đạo là chủ bút và đôi khi còn là tác giả duy nhất. Vào thế kỷ XIX báo chí châu Âu đã trở thành một lĩnh vực quan trọng và phát triển năng động của đời sống văn hóa, kinh tế, chính trị - xã hội.
Nó đã đáp ứng quyền lợi và nhu cầu của độc giả trong một phạm vi lớn. Các đảng phải chính trị, tô chức, hiệp hội cũng tạo ra những an pham cua mình dé thông qua các phương tiện thông tin dai chúng làm cho công chúng biết đến họ, gây ảnh hưởng đến dư luận xã hội và ý thức con người. Từ đó, báo chí đã hình thành theo nhiều định hướng khác nhau [48, tr. Báo chí kinh tế Như đã đề cập ở trên, báo chí xuất hiện và phát triển vì nhu cầu thông tin của công chúng, sự phát triển bền vững của xã hội và những mục đích khác như chính trị, kinh tế.
Trong các nước tư bản với nền kinh tế thị trường phát trién, cơ quan báo chí được coi như một doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và cung ứng dịch vụ. Việc quan lý các cơ quan báo chí được coi như quan tri doanh nghiệp. 15 Sản phẩm báo chí là sản phẩm hàng hóa; dịch vụ báo chí là dịch vụ xã hội, bao gồm dịch vụ công ích và dịch vụ thương mại.52] Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, học viên không xem xét khái niệm “Báo chí kinh té” trong phạm trù của báo chí chuyên biệt, bởi giai đoạn cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX ở Việt Nam chưa hình thành khái niệm này. Cùng với những kết quả khảo sát sơ bộ, học viên tập trung nghiên cứu những nội dung thông tin kinh tế qua những tờ báo được các học giả đi trước đánh giá là báo kinh tế ở thời kỳ đó.
Theo đó, ở giai đoạn này, các thế lực chính trị (ở đây là thực dân Pháp) đã chi phối hoạt động báo chí nhằm mục đích chính trị là chủ yếu, trong đó, có thông qua một số công cụ và phương thức kinh tế như tài trợ sản xuất tin tức, ưu tiên quảng cáo sản pham ngoại.Cũng chính vì vậy, báo chí thông qua việc đáp ứng nhu cầu của công chúng bằng hình thức bán báo thì cũng phát triển nguồn thu dựa trên các nội dung quảng cáo cho các cá nhân, doanh nghiệp có nhu cầu (Phan lớn là của phương Tây). Xét về bản chat, đây cũng là hoạt động kinh tế - dịch vụ của báo chí. Ngay cả những tờ thông tin thuần túy về kinh tế và thương mại, người ký giả bản xứ cũng chỉ xin được phép bằng việc thuê hoặc nhờ một người Pháp có địa vị trong xã hội để làm thủ tục cấp phép. Và ở chiều ngược lại, người Pháp được thuê này cũng sẽ nhận được một khoản thù lao dài hạn từ tờ báo.428-432] Trên cơ sở đó, van dé báo chí kinh tế Việt Nam cuối thế ky XIX dau thé kỷ XX sẽ tập trung và nghiên cứu hai nội dung chính gồm: thông tin kinh tế trên báo chí và hoạt động kinh tế - dịch vụ của báo chí.
Lý luận về báo chí cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Báo chí trên thê giới nói chung và báo chí tại Việt Nam giai đoạn cuôi thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX được vận hành dựa trên những mối quan hệ ràng 16 buộc giữa chính phủ va báo chí. Dé có thé trả lời được báo chí là gì và phân tích được hoạt động báo chí ở thời kỳ này cần phải tìm hiểu bản chất của nó, thường được biéu hiện dưới những trường phái lý thuyết nổi bật ở thời kỳ này. Trong đó, hai học thuyết nồi bật, có thé bao quát được những đặc điểm, chức năng của báo chí thế giới nói chung và báo chí Việt Nam nói riêng giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là Thuyết độc đoán và Thuyết tự do. Thuyết độc đoán Quan niệm của học thuyết này cho rằng báo chí là một đối tượng phục vụ mục đích của quốc gia, chịu trách nhiệm về nội dung và hỗ trợ chính phủ trong bat kỳ khoảng thời gian nao, quan niệm này được chấp nhận rộng rãi vào thé kỷ XVI và XVII, tuy nhiên, sự phát triển của nền dân chủ chính trị và tự do tôn giáo, tự do thương mại đã làm suy thoái dần học thuyết này.
Triết lý cơ bản của học thuyết này biểu hiện qua những mô hình kiểm soát báo chí của những nước độc tài, phát xít. Mô hình kiểm soát này gồm [49, tr.27-75]: (1) Chức năng cơ bản của báo chí là phục vụ mục đích của chính phủ (2) Chính phủ hoặc người đứng đầu Nhà nước có quyền sử dụng báo chí (3) Báo chí được cấp phép, kiểm duyệt bởi chính phủ (4) Báo chí không được phê phán, phê bình về bộ máy chính trị hoặc các nha cam quyên (5) Chủ sở hữu các tờ báo có thé của tư nhân hoặc chính phủ nhưng phải tham gia vào quá trình xúc tiễn các chính sách của chính phủ 1. Thuyết tự do Tới cuối thế kỷ XVII, Thuyết tự do ra đời và được áp dụng trong thực tế ở giai đoạn thé kỷ XVIII, XIX. Mặc dù báo chí vẫn đóng vai trò trung gian giữa 17 người dân và chính phủ, nhưng thông tin trên bao chí không hoàn toan mang màu sắc của quyên lực.
Báo chí không còn là công cụ của chính phủ mà trở thành một phương tiện trung gian dé người dân có thê tham gia vào quá trình chia sẻ, tìm hiểu thông tin về chính sách, chủ trương của nhà nước. Mọi van đề đều được phản ánh trên báo chí từ những góc nhìn đa chiều, khách quan và tôn trọng sự thật. Những học giả theo trường phái này cho răng, trong những thông tin của báo chí, sẽ có một số thông tin đến với công chúng bị sai và một vài ý kiến không có cơ sở. Tuy nhiên, nhà nước không có quyền hạn chế các thông tin đó.
Bên cạnh đó, những người theo chủ nghĩa tự do cũng cho rằng bất kỳ ai có khả năng, cho dù là người trong hay ngoài nước, đều có cơ hội được sở hữu và điều hành một tờ báo. Điều này đồng nghĩa bác chí sẽ được tư hữu hóa và cạnh tranh trong một thị trường tự do. Có thể tóm lược những quan điểm chính của lý thuyết này như sau [49, tr.77-130]: (1) Mục đích hoạt động của báo chí đa dạng: cung cấp thông tin, giải trí, kinh doanh, kiểm tra, giám sát chính phủ. (2) Mọi cá nhân/tô chức có đủ điều kiện đều có thé sở hữu/sử dụng một tờ báo.
(3) Quản lý theo những quy định chung của pháp luật của nhà nước về kinh doanh báo chí. (4) Tư nhân là chủ sở hữu chính của các cơ quan báo chí (5) Báo chí phục vụ nhu cầu thông tin của xã hội nhưng cam những thông tin sai sự thật, đi ngược những quan điểm về văn hóa, tôn giáo.của xã hội/dân A toc. Báo chí Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 1. Chế độ báo chí Phần 1.2 đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của hoạt động báo chí thực tiễn thời kỳ này ở các nước tư bản.
Tại Việt Nam, chính sách đồng hóa cũng bắt đầu được áp dụng băng cách áp đặt hệ thống pháp luật bao gồm các luật lệ của nước Pháp tại thuộc địa Nam kỳ. Trong đó, luật tự do báo chí ngày 29/7/1881 đã được áp dụng chung cho nước Pháp và các thuộc địa, đạo luật này thay thé cho gần 300 điều của 42 văn bản pháp quy trước day, nó đảm bảo cho báo chí Pháp hưởng một chế độ tự do nhất thế giới [45, tr. Nam kỳ là cái nôi ban đầu của nền báo chí Việt Nam.