phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 02 chương 05 tiết. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƢỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƢỜI VIỆT Ở TỈNH BẮC GIANG 1. Khái quát về Phật giáo. Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam Phật giáo hình thành ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên.
Phật giáo là tôn giáo của Ấn Độ, sau đó được truyền bá ra các quốc gia phương Đông hình thành nên những dòng Phật giáo khác nhau: Phật giáo Việt Nam, phật giáo Trung Quốc. Người sáng lập ra Phật giáo là thái tử Tất Đạt Đa, con vua Tịnh Phạn, người trị vì bộ tộc Sakya ở miền bắc Ấn Độ. Người đời sau gọi Tất Đạt Đa là phật Thích Ca Mâu Ni. Ông mất năm 483 trước CN, thọ 80 tuổi.
Đạo Phật được truyền ra ngoài biên giới rất sớm theo hai hướng chính: Một về phương Nam, hình thành nên phái Nam Tông (phật giáo Tiểu Thừa), một về phương Bắc, hình thành nên phái Bắc Tông (Phật giáo Đại Thừa). Tiểu Thừa hay Đại Thừa được coi như những cỗ xe đưa chúng sinh đến nơi thanh tịnh, đến giải thoát, nhưng nếu Tiểu Thừa như “cỗ xe nhỏ”, ngụ ý chỉ chở một người thì Đại Thừa như “cỗ xe lớn”, ngụ ý chở được nhiều người. Tuy công năng của Phật giáo Tiểu Thừa và Phật giáo Đại Thừa có sự khác nhau nhưng cả hai phái đều tôn trọng những tư tưởng cơ bản của Phật Thích Ca Mâu Ni, nhất là những tư tưởng về thế giới quan và nhân sinh quan. Thế giới quan Phật giáo: ● Thuyết vô thường Vô thường tức là thường xuyên biến đổi.
Các sự vật hiện tượng trong vũ trụ không đứng yên mà luôn chuyển động theo chu trình: Sinh, trụ, dị, diệt. Sự thay đổi này luôn tuân theo những quy luật nhất định. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vô thường là một tiến trình tự nhiên của mọi sự vật trong thế giới, vạn vật trong thế giới chỉ là dòng biến hoá vô thường, vô định không do một vị thần, một lực lượng siêu nhiên nào sáng tạo ra. Thế giới và cả con người được cấu thành bởi sự liên hợp của hai yếu tố Danh và Sắc, Danh là yếu tố tinh thần, là cái tâm lý, không có hình chất mà chỉ có tên gọi.
Sắc là yếu tố vật chất, là cái có thể cảm giác được. Danh và sắc hợp lại với nhau thành “ngũ uẩn”, ngũ uẩn tác động qua lại trong sự biến hoá vô thường tạo nên vạn vật. ● Thuyết vô ngã: Vô ngã là không có cái ta, không có cái bản thể vĩnh hằng, bất biến. Vì thế giới là dòng biến ảo, vô thường không ngừng, không nghỉ nên không có cái “bản ngã” hay “cái tôi” và cũng chẳng có cái thực thể.
Theo triết học Phật giáo, mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ đều bị chi phối của luật nhân duyên. “Duyên” là điều kiện, là cái khiến cho “nhân” sinh ra thành “quả”. Nhân nào thì quả ấy, cứ thế nối tiếp nhau vô cùng và vô tận. ● Vô tạo giả Đạo Phật cho rằng thế giới do các loại vật chất tạo thành.
Mọi sự vật trong vũ trụ được Phật giáo gọi là vạn Pháp. Phật giáo cho rằng vũ trụ tự nó, không do ai sinh ra, không ai có thể tiêu diệt. Vũ trụ là không sinh, không diệt, vô thủy, vô chung. Nhân sinh quan Phật giáo: Học thuyết nhân sinh quan Phật giáo gắn bó chặt chẽ và là hệ quả trực tiếp của những quan niệm về thế giới ở trên và sự tiếp thu tư tưởng luân, hồi, nghiệp báo của Upanisad.
Mục đích cuối cùng và cũng là tư tưởng xuyên suốt toàn bộ nhân sinh quan phật giáo là tư tưởng “giải thoát” chúng sinh khỏi kiếp sống trầm luân đau khổ. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ● Học thuyết về Tứ diệu đế: Một là Khổ đế: Khổ đế là định đề đầu tiên nói về những nỗi khổ của con người. Theo Phật giáo, trong cuộc sống có 8 nỗi khổ mà con người phải trải qua. Ngoài bốn nỗi khổ do sinh, lão, bệnh, tử gây ra, con người còn khổ vì yêu thương nhau mà phải xa nhau (Thụ biệt ly), khổ vì oán ghét nhau mà phải tụ hội với nhau (Oán tăng hội), khổ vì muốn mà không được (Sở cầu bất đắc), khổ vì sự cảm thụ, sự tụ hội của ngũ uẩn (Thụ ngũ uẩn).
Con người ở đâu, làm gì cũng khổ, đời là bể khổ. Hai là Tập đế: Tập đế đề cập đến nguyên nhân tạo ra những nỗi khổ của đời người. Phật giáo cho rằng nguyên nhân của những nỗi khổ đau của con người là do lòng tham, sân, si vô độ. Con người muốn trường tồn mãi mãi, nhưng thực tại cứ luôn luôn thay đổi, biến hoá trong vòng sinh, lão, bệnh, tử.
Không có gì là thực là của ta nhưng vì lòng tham lam, sân, si vô độ mà lầm tưởng là có ta và do ta nên con người cứ khát ái, tham dục, hành động để chiếm đoạt nhằm thoả mãn những ham muốn, dục vọng đó. Điều đó đã gây nên sự khổ ải, reo rắc nỗi đau thương cho con người, gây nên nghiệp báo trong đời người và đẩy con người vào trong bể khổ triền miên của cuộc đời. Ba là Diệt đế: Phật giáo khẳng định cái khổ có thể tiêu dịêt được, vòng luân hồi có thể chấm dứt được, chúng sinh có thể thoát khỏi nghiệp chướng, luân hồi, đạt tới cảnh Niết bàn. Bốn là Đạo đế: Trình bày con đường mà chúng sinh phải tuân theo để diệt khổ và giải thoát, con đường đó là trọng đạo mà đức Phật đã vạch ra để phá vỡ sự mê muội, dứt bỏ cái vô minh, tăm tối để đạt được sự sáng tỏ, nhận ra chân bản của vạn vật và muôn loài.
Con đường đó là tu luyện, suy tư, chiêm nghiệm nội tâm, thực nghiệm tâm linh theo 8 phương hướng chủ yếu theo Bát chính đạo: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tịnh tiến, Chính niệm, Chính định. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngoài 8 con đường trên, đạo Phật còn đề ra một số biện pháp rất cụ thể trên con đường tu luyện, đó là phải thực hiện sáu phép tu (lục độ) và năm điều răn (ngũ giới). ● Luật mười hai nhân duyên: Vô minh : Là không sáng suốt, ngu tối nên thế giới là ảo, là giả mà cứ cho là thật. Hành : là ý muốn thúc đẩy hành động tao tác.
Thức : là nhận thức, ý thức phân biệt cái tâm trong sáng cân bằng với cái tâm ô nhiễm, mất cân bằng. Danh -sắc là sự thống nhất, kết hợp cái vật chất và tinh thần. Đối với các loại hữu hình thì sự phối hợp của Danh và Sắc sẽ sinh Thụ là sự cảm thụ, sự nhận thức trước tác động của thế giới bên ngoài. Ái là sự yêu thích mà nảy sinh ham muốn dục vọng do cảm thụ thế giới bên ngoài.
Thủ là giữ lấy và chiếm lấy cái mà mình yêu thích. Hữu là sự tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được. Sinh là sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại. Lão tử là già và chết vì có sự sinh thành.
Đó là 12 nguyên nhân và kết quả nối tiếp nhau tạo ra cái vòng luẩn quẩn của nỗi khổ đau nhân loại. ٭Thuyết nhân quả: Khi lý giải về sự phát sinh, tồn tại và phát triển của vạn sự vạn vật (vạn pháp) trong vũ trụ Phật giáo cho rằng mọi vật đều có nguyên nhân sinh ra và mất đi, sự vật này ra đời, tồn tại và phát triển được là do kết quả của các nguyên nhân trước đó và đến lượt nó lại là nguyên nhân cho các sự vật khác sinh ra, tồn tại và hiện hữu trong vũ trụ này. Theo đó thì mọi vật dù to lớn như “mặt trăng và các vì tinh tú” hay nhỏ bé như “hạt cát hạt bụi”, dù vô hình hay 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hữu hình thì đều có nguyên nhân sinh ra, tồn tại và mất đi. Nói cách khác, toàn bộ thế giới này đều bị chi phối bởi luật nhân quả.
Quy luật nhân –quả diễn ra theo 2 quá trình cơ bản:. Nhân –quả nối tiếp nhau vô gián đoạn: Là nguyên nhân sinh ra kết quả, đồng thời quả lại trở thành nguyên nhân của một kết quả mới. Qúa trình đó diễn ra liên tục không gián đoạn. Nhân –quả nối tiếp nhau vô tạp loạn: Nhân nào thì sinh ra quả ấy, “ác giả ác báo”.
Ta gieo nhân lành thì được quả lành, còn ngược lại, gieo nhân ác thì gặt được quả ác. Thuyết nhân quả của đạo Phật là những tư tưởng bao hàm trong nó nhiều yếu tố biện chứng sâu sắc, đồng thời cũng mang những giá trị thực tế cao trên cơ sở những lý luận của thuyết nhân quả cho rằng vạn pháp, vạn vật trong vũ trụ đều có nguyên nhân sinh ra và mất đi. ٭Thuyết luân hồi nghiệp báo: Luân hồi dịch từ chữ Samsara trong tiếng Phạn. Theo chữ Hán thì Luân là bánh xe, hồi là xoay tròn.
Luân hồi là hình ảnh bánh xe xoay tròn. Phật sử dụng hình ảnh này để chỉ sự lên xuống, xuất hiện của mỗi chúng sinh trong sáu cõi (lục đạo), khi đầu thai ở cõi này, khi ở cõi khác luôn luôn nối tiếp tử sinh, sinh tử không ngừng. Nghiệp (Karma) tức là hành động tạo ra sức mạnh thúc đẩy con người có hành động mới và thúc ép con người nhận chịu hậu quả, ràng buộc con người với hậu quả đó. Theo thuyết luân hồi nghiệp báo thì vạn vật trong vòng luân hồi sinh tử đã gieo các “nhân” khác nhau, các giống vật đều có mỗi vật một nghiệp quả riêng, chúng thừa tự nghiệp của chúng, chúng có nghiệp làm tổ tiên gia tộc và thượng đế.
Chính nghiệp báo ấy đã xếp đặt chúng vào tất cả mọi chủng loại thứ hạnh. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Do luật luân hồi nghiệp báo bao trùm lên cả hiện tại, quá khứ và tương lai cho nên người nào làm nên nghiệp thiện dù chỉ ở đời này thì cả ở đời này, đời sau, thậm chí đời sau nữa vẫn được hưởng quả thiện, được các phần thưởng nơi thế gian như: phú quý, thọ, sang, minh. Còn ngược lại kẻ nào gieo nghiệp ác thì tất sẽ bị quả ác nghiệp báo. Phật giáo vào nước ta qua đường giao lưu kinh tế giữa Việt Nam và Ấn Độ vào khoảng thế kỷ II T.CN, trung tâm Phật giáo đầu tiên là Luy Lâu (Bắc Ninh).