CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.1 Động lực làm việc Theo các nhà nghiên cứu, có rất nhiều cách tiếp cận và hiểu khác nhau về động lực. Trong tiếng Anh, thuật ngữ động lực là “motivation” có nguồn gốc từ tiếng latin “motus”, một dạng của động từ “movere” với ý nghĩa là chuyển động, thúc đẩy, ảnh hưởng, phấn chấn. Theo Guay, F và các cộng sự (2010) thì cho rằng “Động lực là lý do để thực hiện hành vi” Một số tác giả khác như Greenberg và Baron (2003) 2 quan niệm động lực là một quá trình phản ứng tâm lý tạo ra sự mong muốn, định hướng và duy trì một hành vi nhằm đạt một mục tiêu nào đó.
Ở Việt Nam, động lực cũng được tiếp cận ở nhiều góc độ. Từ góc độ tâm lý, động lực được hiểu là “cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định đúng xu hướng của nó.” Từ góc độ quản lý nguồn nhân lực, “động lực làm việc chính là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức.” Như vậy, mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau về động lực làm việc tuy nhiên có thể hiểu cơ bản nhất về động lực làm việc như sau: Động lực làm việc là những kích thích nhằm thôi thúc, khuyến khích, động viên con người thực hiện hành vi để đạt được mục tiêu của mình. Động lực xuất 7 phát từ bản thân của mỗi con người, tùy vào tâm lý và hoàn cảnh, điều kiện khác nhau mà mỗi người cần có những biện pháp tạo động lực khác nhau để hành động. Các biểu hiện của động lực làm việc Động lực là yếu tố thuộc về tinh thần, ở bên trong mỗi cá nhân và được biểu hiện ra bên ngoài thông qua thái độ, hoạt động trong một hoàn cảnh và môi trường cụ thể.
Trong đơn vị sự nghiệp công lập, để đánh giá viên chức có động lực làm việc hay không chúng ta cần quan tâm đến các biểu hiện sau: a) Sự hứng thú, say mê với công việc được giao Sự hứng thú, say mê là sự kết hợp hài hoà giữa khả năng và sở thích nhằm mang lại niềm hạnh phúc và sinh lực để hoàn thành các công việc, mục tiêu đề ra. Người lao động hiểu rõ yêu cầu vị trí công việc của mình; luôn tự hào công việc của mình khi bày tỏ với đồng nghiệp, bạn bè, với đối tác; luôn nỗ lực giải quyết mọi rắc rối trong công việc; có tinh thần làm việc hết mình, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn và thử thách, có nhận thức đầy đủ mục đích ý nghĩa trách nhiệm đối với công việc được giao. b) Mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao Mức độ hoàn thành công việc được đo lường bằng kết quả thực hiện công việc thực hiện so với chỉ tiêu đề ra, hay còn gọi là hiệu quả công việc, được biểu hiện qua những tiêu chí sau: - Tiêu chí về số lượng: thời gian lao động, số lượng đầu việc thực hiện, số lượng công việc được đảm trách, số lượng sáng kiến và sáng tạo. - Tiêu chí về chất lượng: giải quyết công việc ở mức độ nào: chưa hoàn thành, hoàn thành, hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc công việc được giao… c) Mức độ hài lòng, gắn bó với tập thể, với người lãnh đạo Khảo sát sự hài lòng của nhân viên là một trong những công cụ giúp 8 cho người quản lý đánh giá được phần nào mức độ thỏa mãn nhân viên với công việc hiện tại của họ, hiểu được tâm tư, nguyện vọng của nhân viên.
Đây chính là cách để gây dựng lòng trung thành của họ đối với tổ chức, làm cho nhân viên yêu thích công việc, gắn bó với đồng nghiệp và phát huy tối đa năng lực và sự nhiệt tình trong công việc của họ. Mối quan hệ giữa những đồng nghiệp trong tổ chức luôn hòa hợp, đoàn kết. Nhân viên cấp dưới và lãnh đạo quản lý luôn có sự tương tác, trao đổi, lãnh đạo luôn lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhân viên. Các chính sách đào tạo nguồn nhân lực được tổ chức thường xuyên hướng đến nhu cầu phát triển của viên chức; chế độ lương thưởng và các chế độ phúc lợi đối với viên chức, người lao động.
TẠO ĐỘNG LỰC CHO VIÊN CHỨC 1. Khái niệm về cán bộ viên chức Theo Điều 2 Luật Viên chức 2010 quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Từ đó, cách hiểu về viên chức làm công tác khám chữa bệnh trong các cơ sở y tế công lập có thế khái quát với những đặc điểm như sau: - Là công dân Việt Nam; - Tuyển dụng theo vị trí việc làm tại các cơ sở khám chữa bệnh công lập theo chế độ hợp đồng. - Được hưởng lương từ quỹ lương của bệnh viện theo các quy định của pháp luật.
Sự cần thiết phải tạo động lực cho cán bộ viên chức Viên chức là những người mà hoạt động của họ nhằm cung cấp các dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người dân như giáo dục, y tế, văn hóa, nghệ 9 thuật, thể dục, thể thao…Đây là những hoạt động quan trọng mà Nhà nước phải đứng ra thực hiện vì khu vực tư không có khả năng thực hiện hoặc thực hiện không hiệu quả, chính vì vậy kết quả hoạt động của viên chức có ảnh hưởng trực tiếp đến mọi mặt của đời sống xã hội. Viên chức có động lực làm việc sẽ giúp đơn vị hoàn thành mục tiêu hoạt động, nâng cao hiệu quả công việc và phát triển ngày càng vững mạnh, có sức mạnh đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của đời sống xã hội. Do vậy, tạo động làm việc cho viên chức trong sự nghiệp công lập là việc làm hết sức có ý nghĩa để nâng cao chất lượng làm việc của viên chức cũng như hoạt động của tổ chức. Ngoài những đặc điểm như viên chức nói chung, thì viên chức y tế có một số đặc điểm riêng mang tính chất đặc thù của ngành.
- Lao động ngành y là loại lao động đặc thù, gắn với trách nhiệm cao trước sức khỏe của con người và tính mạng của người bệnh. Là lao động hết sức khẩn trương giành giật từng giây từng phút trước tử thần để cứu tính mạng người bệnh. Là lao động liên tục cả ngày cả đêm ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe nhân viên y tế, trực đêm ngủ ngày và ngược lại. Lao động trong môi trường không thuận lợi, không phù hợp với tâm lý con người.
Chịu sức ép nặng nề của dư luận xã hội, thái độ hành vi không đúng của người bệnh và người nhà bệnh nhân khi không thỏa mãn nhu cầu của họ trong khi điều kiện đáp ứng không có, người thầy thuốc không thể thực hiện được. - Là loại hình lao động luôn tiếp xúc với những người có sức khỏe về thể chất và tinh thần không bình thưởng. Người bệnh là người có tổn thương về thể chất và tinh thần, họ luôn lo lắng bức xúc với tình trạng bệnh tật của mình. Vì vậy, họ buồn phiền, cáu gắt dễ có phản ứng phức tạp, nếu như trình độ nhận thức hiểu biết chưa tốt, thiếu giáo dục, thiếu bản lĩnh thì họ sẽ có những hành vi không đúng mực với thầy thuốc.
Khi trong gia đình có người 10 bị bệnh cả nhà lo lắng đưa người bệnh đến cơ sở y tế, họ yêu cầu người thầy thuốc và bệnh viện quá mức trong lúc đáp ứng của bệnh viện không có thể, họ coi trách nhiệm của bệnh viện là phải đáp ứng nhu cầu của họ mà không thấy trách nhiệm của mình là phải hợp tác với bệnh viện để tìm mọi cách tốt nhất điều trị người bệnh. Do đó dễ gây thắc mắc, căng thẳng giữa thầy thuốc và người bệnh. Xuất phát từ những đặc điểm đó mà việc các nhà quản lý xây dựng những biện pháp và chính sách tạo động lực cho viên chức y tế càng trở nên quan trọng và cần thiết. Vai trò của tạo động lực Tạo động lực làm việc là tất cả các biện pháp, chính sách và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát, tự nguyện của người lao động trong thực thi công việc để đạt được mục tiêu chung của tổ chức.
Tạo động lực vừa là trách nhiệm, vừa là mục tiêu của nhà quản lý; nhằm sử dụng một cách hợp lý nguồn lao động, khai thác hiệu quả nguồn lực con người để không ngừng nâng cao năng suất lao động của tổ chức. Đối với cá nhân người lao động: tạo động lực làm việc giúp họ làm việc với nhiều nỗ lực, cố gắng, cường độ làm việc cao, có mục đích định hướng trong hoàn thành mục tiêu, đồng thời họ luôn luôn thấy hài lòng với công việc và có ý thức phát triển hoàn thiện bản thân. Đối với tổ chức: Giúp tổ chức sử dụng nguồn nhân lực một cách hiệu quả; Gia tăng hiệu suất làm việc của tổ chức; Giúp tổ chức đạt được mục tiêu đề ra; Thu hút, giữ chân nhân viên, tạo nên một lực lượng lao động ổn định và nâng cao vị thế, uy tín của tổ chức trên thị trường lao động cũng như trong xã hội; Đem lại sự sáng tạo trong tổ chức; Giảm thiểu những vấn đề có tác động tiêu cực nảy sinh trong hoạt động của tổ chức. MỘT SỐ HỌC THUYẾT PHỔ BIẾN VỀ TẠO DỘNG LỰC LAM VIỆC 1.
Thuyết nhu cầu của Maslow A.Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu. Hành vi của con người chịu sự chi phối của các nhu cầu chưa được thỏa mãn và con người luôn đòi hỏi nhiều hơn. Khi một nhu cầu được thỏa mãn, con người lại khát khao nhu cầu cao hơn. Lý thuyết của ông đã chỉ ra các nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ vào mức độ đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh của chúng để quy về 5 loại sắp xếp theo thang bậc từ thấp đến cao.
Tháp nhu cầu của Maslow (1) Nhu cầu sinh lý: đó là những nhu cầu cơ bản của con người bao gồm những đòi hỏi về ăn, uống, mặc, ở, đi lại.Đây là những nhu cầu thiết yếu đảm bảo cho con người có thể tồn tại.