Luận văn thạc sĩ: Tạo động lực cho NLĐ tại Xí nghiệp Bến xe – tàu Kiên Giang

Luận văn phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp tạo động lực làm việc cho người lao động tại Xí nghiệp Bến xe – tàu Kiên Giang.

Trường đại học

Trường Đại học Duy Tân

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

118
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục tiêu nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Bố cục luận văn

0.6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

1.1. KHÁI QUÁT VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

1.1.1. Các khái niệm cơ bản

1.1.2. Một số học thuyết liên quan đến tạo động lực làm việc

1.2. NỘI DUNG TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

1.2.1. Xác định nhu cầu của người lao động

1.2.2. Tạo động lực bằng biện pháp tài chính

1.2.3. Tạo động lực bằng biện pháp phi tài chính

1.3. CÁC TIÊU CHÍ CƠ BẢN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

1.3.1. Mức độ hài lòng của người lao động

1.3.2. Năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc

1.3.3. Tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người lao động

1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

1.4.1. Các nhân tố thuộc về môi trường bên ngoài tổ chức

1.4.2. Các nhân tố thuộc về môi trường bên trong tổ chức

1.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI XÍ NGHIỆP BẾN XE – TÀU KIÊN GIANG

2.1. TỔNG QUAN VỀ XÍ NGHIỆP BẾN XE – TÀU KIÊN GIANG

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Xí nghiệp Bến xe – tàu Kiên Giang

2.1.3. Chức năng, nhiệm vụ của Xí nghiệp Bến xe – tàu Kiên Giang

2.1.4. Đặc điểm người lao động tại Xí nghiệp Bến xe – tàu Kiên Giang

2.2. THỰC TRẠNG TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI XÍ NGHIỆP BẾN XE – TÀU KIÊN GIANG

2.2.1. Xác định nhu cầu của người lao động tại Xí nghiệp Bến xe – tàu Kiên Giang

2.2.2. Thực trạng tạo động lực bằng biện pháp tài chính

2.2.3. Thực trạng tạo động lực bằng biện pháp phi tài chính

2.3. HIỆU QUẢ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI XÍ NGHIỆP BẾN XE – TÀU KIÊN GIANG QUA CÁC TIÊU CHÍ

2.3.1. Mức độ hài lòng của người lao động

2.3.2. Năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc

2.3.3. Tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người lao động

2.4. THỰC TRẠNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI XÍ NGHIỆP BẾN XE – TÀU KIÊN GIANG

2.4.1. Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài Xí nghiệp Bến xe – tàu Kiên Giang

2.4.2. Các nhân tố thuộc môi trường bên trong Xí nghiệp Bến xe – tàu Kiên Giang

2.5. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI XÍ NGHIỆP BẾN XE – TÀU KIÊN GIANG

2.5.1. Kết quả đạt được

2.5.2. Hạn chế và nguyên nhân

2.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI XÍ NGHIỆP BẾN XE TÀU – KIÊN GIANG

3.1. MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI XÍ NGHIỆP BẾN XE – TÀU KIÊN GIANG

3.1.1. Mục tiêu tạo động lực làm việc cho người lao động tại Xí nghiệp Bến xe – tàu Kiên Giang

3.1.2. Định hướng tạo động lực làm việc cho người lao động tại Xí nghiệp Bến xe – tàu Kiên Giang

3.2. GIẢI PHÁP TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI XÍ NGHIỆP BẾN XE – TÀU KIÊN GIANG

3.2.1. Nhóm giải pháp tạo động lực bằng biện pháp tài chính

3.2.2. Nhóm giải pháp tạo động lực bằng biện pháp phi tài chính

3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

3.3.1. Kiến nghị với Sở Giao thông vận tải Kiên Giang

3.3.2. Kiến nghị với Nhà nước

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Luận văn tạo động lực Khám phá các học thuyết nền tảng

Việc tạo động lực làm việc cho người lao động là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của quản trị nguồn nhân lực, quyết định trực tiếp đến sự phát triển bền vững của một tổ chức. Một đội ngũ nhân viên có động lực cao sẽ làm việc với tinh thần tự nguyện, nỗ lực và sáng tạo, từ đó nâng cao năng suất và hiệu quả chung. Luận văn của tác giả Đào Trọng Nghĩa đã hệ thống hóa các cơ sở lý luận quan trọng, làm nền tảng cho việc nghiên cứu thực tiễn tại Xí nghiệp Bến xe – tàu Kiên Giang. Các học thuyết này không chỉ định hình cách tiếp cận mà còn cung cấp công cụ để phân tích và đề xuất các giải pháp phù hợp. Hiểu rõ bản chất của động lực, các yếu tố cấu thành và các mô hình lý thuyết kinh điển là bước đi đầu tiên và cần thiết để xây dựng một chiến lược nhân sự hiệu quả. Trọng tâm của chương lý luận là việc làm rõ các khái niệm cốt lõi như nhu cầu, động lực và các biện pháp kích thích. Đặc biệt, nghiên cứu này nhấn mạnh sự kết hợp giữa các học thuyết tâm lý học và quản trị học để đưa ra một góc nhìn toàn diện. Việc áp dụng các học thuyết này vào bối cảnh cụ thể của một doanh nghiệp trong ngành giao thông vận tải đòi hỏi sự linh hoạt và điều chỉnh, nhưng nền tảng lý thuyết vững chắc sẽ là kim chỉ nam cho mọi quyết định quản lý. Các học thuyết không chỉ là công cụ phân tích mà còn là nguồn cảm hứng để các nhà quản lý tìm ra những cách thức mới mẻ nhằm nâng cao tinh thần làm việcgắn kết nhân viên với mục tiêu chung của tổ chức.

1.1. Phân tích các khái niệm cốt lõi Nhu cầu và Động lực

Để hiểu về tạo động lực, cần nắm vững hai khái niệm cơ bản: nhu cầu và động lực. Theo Philip Kotler, nhu cầu là "cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được". Nhu cầu là yếu tố khởi nguồn, thúc đẩy con người hành động để thỏa mãn sự thiếu hụt đó. Tại Xí nghiệp Bến xe – tàu Kiên Giang, nhu cầu của người lao động rất đa dạng, từ nhu cầu vật chất cơ bản như lương thưởng và phúc lợi đến các nhu cầu tinh thần như được tôn trọng và cơ hội phát triển. Trong khi đó, động lực làm việc được định nghĩa là "sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được mục tiêu của tổ chức" (Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm). Động lực là một quá trình tâm lý nội tại, định hướng hành vi của cá nhân theo một mục đích nhất định. Đây là yếu tố quyết định đến thái độ, sự say mê và mức độ cống hiến của nhân viên trong công việc.

1.2. Vận dụng Thuyết nhu cầu Maslow và Thuyết công bằng

Luận văn đã vận dụng hiệu quả Thuyết nhu cầu Maslow để phân tầng nhu cầu của người lao động tại Xí nghiệp. Tháp nhu cầu 5 bậc của Maslow, từ sinh lý, an toàn, xã hội, được tôn trọng đến tự thể hiện, là một mô hình hữu ích để xác định các chính sách đãi ngộ phù hợp. Ví dụ, việc đảm bảo lương đủ sống đáp ứng nhu cầu sinh lý, trong khi xây dựng một môi trường làm việc an toàn, thân thiện sẽ đáp ứng nhu cầu an toàn và xã hội. Bên cạnh đó, Thuyết công bằng của John Stacey Adams (1963) cũng được áp dụng để lý giải tầm quan trọng của sự công bằng trong đãi ngộ. Học thuyết này cho rằng người lao động luôn so sánh tỷ lệ cống hiến/kết quả nhận được của mình với người khác. Bất kỳ sự bất công nào được cảm nhận cũng sẽ làm suy giảm động lực. Do đó, việc xây dựng một hệ thống đánh giá hiệu quả công việc minh bạch và chính sách đãi ngộ công bằng là điều kiện tiên quyết để duy trì động lực.

II. Thách thức trong tạo động lực làm việc tại Bến xe Kiên Giang

Phân tích thực trạng động lực làm việc tại Xí nghiệp Bến xe – tàu Kiên Giang là một phần cốt lõi của luận văn, cung cấp cái nhìn sâu sắc về những kết quả đạt được cũng như các hạn chế còn tồn tại. Mặc dù ban lãnh đạo đã có những nỗ lực nhất định trong việc quan tâm đến đời sống người lao động, công tác tạo động lực vẫn chưa thực sự mang lại hiệu quả như kỳ vọng. Nhiều chính sách đãi ngộ còn mang tính bình quân, chưa gắn liền với hiệu suất công việc, dẫn đến tình trạng nhân viên làm tốt và chưa tốt được hưởng quyền lợi gần như nhau. Điều này vô hình trung làm giảm đi nỗ lực của những cá nhân xuất sắc. Hơn nữa, môi trường làm việc tuy ổn định nhưng còn thiếu các hoạt động tập thể sôi nổi để tăng cường gắn kết nhân viên. Theo kết quả khảo sát được trích dẫn trong luận văn, sự hài lòng của nhân viên ở một số khía cạnh như cơ hội thăng tiến và được ghi nhận vẫn còn ở mức khiêm tốn. Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực không chỉ đến từ bên trong tổ chức mà còn từ các yếu tố bên ngoài như sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp tư nhân. Việc nhận diện rõ ràng những thách thức này là cơ sở quan trọng để xây dựng các giải pháp tăng động lực một cách toàn diện và khả thi, phù hợp với đặc thù của Xí nghiệp.

2.1. Phân tích đặc điểm nguồn nhân lực tại Xí nghiệp

Theo Bảng 2.1 của luận văn, nguồn nhân lực tại Xí nghiệp Bến xe – tàu Kiên Giang có những đặc điểm riêng biệt. Tính đến năm 2019, tổng số lao động là 67 người, trong đó nam giới chiếm đa số (80,6%) do đặc thù công việc ngành vận tải. Về độ tuổi, lực lượng lao động khá đa dạng, với nhóm tuổi từ 31-39 chiếm tỷ lệ cao nhất (38,81%), đây là độ tuổi chín muồi về kinh nghiệm và sức khỏe. Tuy nhiên, đội ngũ lao động trẻ dưới 30 tuổi cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể (23,88%). Sự kết hợp này tạo ra cả cơ hội và thách thức: sức trẻ, năng động đi cùng với kinh nghiệm dày dặn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu về các chính sách tạo động lực khác nhau cho từng nhóm tuổi. Về trình độ, chất lượng lao động ngày càng được cải thiện, số lượng nhân viên có trình độ đại học và trên đại học đang có xu hướng tăng, cho thấy chính sách đào tạo và phát triển nghề nghiệp đã bước đầu phát huy hiệu quả.

2.2. Hạn chế trong chính sách đãi ngộ và môi trường làm việc

Qua phân tích thực trạng, luận văn chỉ ra một số hạn chế cốt lõi. Về mặt tài chính, mặc dù Xí nghiệp đã thực hiện các chế độ lương thưởng và phúc lợi theo quy định, nhưng việc trả lương còn mang tính cào bằng, chưa thực sự phản ánh đúng năng lực và mức độ đóng góp của từng cá nhân. Về mặt phi tài chính, văn hóa doanh nghiệp chưa thực sự mạnh mẽ, các hoạt động tập thể còn hạn chế. Theo Bảng 2.8 về kết quả khảo sát mức độ hài lòng, nhiều nhân viên cho rằng cơ hội thăng tiến chưa rõ ràng và công tác ghi nhận, khen thưởng chưa kịp thời. Chính những hạn chế này đã tạo ra rào cản, làm giảm sự hài lòng của nhân viên và ảnh hưởng tiêu cực đến động lực cống hiến lâu dài.

III. Phương pháp tạo động lực làm việc bằng công cụ tài chính

Các biện pháp tài chính luôn là công cụ mạnh mẽ và trực tiếp nhất để tạo động lực làm việc cho người lao động. Luận văn đã đề xuất một nhóm các giải pháp tập trung vào việc cải thiện và hoàn thiện các chính sách liên quan đến lợi ích vật chất. Mục tiêu không chỉ là tăng thu nhập, mà là xây dựng một hệ thống đãi ngộ công bằng, minh bạch và có tính cạnh tranh. Một chính sách đãi ngộ hiệu quả phải gắn liền với kết quả công việc, khuyến khích nhân viên nỗ lực vượt qua các tiêu chuẩn đã định. Điều này đòi hỏi Xí nghiệp phải xây dựng lại hệ thống đánh giá hiệu quả công việc một cách khoa học và khách quan hơn. Các khoản lương thưởng và phúc lợi không nên được phân bổ một cách dàn trải mà cần có sự khác biệt rõ rệt giữa các cá nhân và bộ phận có thành tích xuất sắc. Theo nghiên cứu, khi người lao động cảm thấy thu nhập của họ tương xứng với công sức bỏ ra, họ sẽ có xu hướng gắn bó và cống hiến nhiều hơn. Việc cải thiện các công cụ tài chính không chỉ giúp giải quyết nhu cầu vật chất trước mắt mà còn thể hiện sự ghi nhận của tổ chức đối với đóng góp của nhân viên, qua đó tác động tích cực đến tinh thần và sự hài lòng của nhân viên.

3.1. Hoàn thiện hệ thống lương thưởng dựa trên hiệu suất

Giải pháp trọng tâm là xây dựng một chế độ tiền lương và thưởng linh hoạt, gắn trực tiếp với hiệu suất. Thay vì trả lương theo thâm niên hoặc chức danh một cách cứng nhắc, Xí nghiệp nên áp dụng mô hình trả lương 3P (Pay for Position, Pay for Person, Pay for Performance). Trong đó, phần lương theo hiệu suất (Performance) cần chiếm một tỷ trọng hợp lý để khuyến khích sự nỗ lực. Để làm được điều này, cần có một quy trình đánh giá hiệu quả công việc rõ ràng, với các chỉ số đo lường (KPIs) cụ thể cho từng vị trí. Việc này đảm bảo tính công bằng và minh bạch, giúp nhân viên hiểu rõ họ cần làm gì để đạt được mức thưởng cao hơn. Khen thưởng cần kịp thời và công khai để tạo hiệu ứng lan tỏa, khích lệ toàn thể nhân viên.

3.2. Đa dạng hóa các chính sách phúc lợi và hỗ trợ tài chính

Bên cạnh lương và thưởng, các chế độ phúc lợi đóng vai trò quan trọng trong việc giữ chân người tài. Luận văn đề xuất Xí nghiệp Bến xe – tàu Kiên Giang cần đa dạng hóa các gói phúc lợi tự nguyện bên cạnh các phúc lợi bắt buộc. Ví dụ, tổ chức có thể cung cấp các gói bảo hiểm sức khỏe cao cấp cho nhân viên và gia đình, hỗ trợ chi phí học tập cho con em nhân viên, hoặc tổ chức các chương trình du lịch, nghỉ dưỡng định kỳ chất lượng hơn. Ngoài ra, việc thiết lập các chính sách hỗ trợ tài chính linh hoạt như cho vay ưu đãi khi nhân viên gặp khó khăn cũng thể hiện sự quan tâm sâu sắc của tổ chức, giúp gắn kết nhân viên và tạo ra một môi trường làm việc nhân văn.

IV. Cách nâng cao động lực làm việc qua giải pháp phi tài chính

Bên cạnh các yếu tố vật chất, các biện pháp phi tài chính đóng vai trò không thể thiếu trong việc nâng cao tinh thần làm việc và xây dựng một văn hóa doanh nghiệp bền vững. Luận văn đã dành một phần quan trọng để đề xuất các giải pháp tập trung vào việc thỏa mãn các nhu cầu tinh thần của người lao động tại Xí nghiệp Bến xe – tàu Kiên Giang. Các giải pháp này bao gồm việc tạo ra một môi trường làm việc tích cực, chuyên nghiệp, nơi mọi người được tôn trọng, lắng nghe và có cơ hội phát triển. Một trong những yếu tố quan trọng nhất là công tác đào tạo và phát triển nghề nghiệp. Khi nhân viên thấy được một lộ trình thăng tiến rõ ràng và được tổ chức đầu tư để nâng cao năng lực, họ sẽ cảm thấy được trân trọng và có động lực để cống hiến lâu dài. Hơn nữa, sự ghi nhận kịp thời từ cấp trên, dù chỉ là một lời khen, cũng có tác động tâm lý rất lớn. Việc phân công công việc hợp lý, phù hợp với sở trường và năng lực của từng cá nhân cũng là một giải pháp tăng động lực hiệu quả. Khi người lao động được làm công việc mình yêu thích và phát huy được thế mạnh, họ sẽ làm việc một cách say mê và chủ động hơn, góp phần tạo nên một tập thể vững mạnh.

4.1. Xây dựng môi trường làm việc và văn hóa doanh nghiệp tích cực

Một môi trường làm việc lý tưởng được xây dựng dựa trên sự tin tưởng, tôn trọng và hợp tác. Ban lãnh đạo cần khuyến khích giao tiếp cởi mở, thường xuyên tổ chức các buổi đối thoại để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân viên. Xây dựng một văn hóa doanh nghiệp mạnh mẽ, với các giá trị cốt lõi rõ ràng, sẽ giúp định hướng hành vi và tạo ra sự đồng thuận trong toàn tổ chức. Các hoạt động tập thể như team building, sự kiện thể thao, văn nghệ cần được tổ chức thường xuyên và bài bản hơn để tăng cường sự tương tác và gắn kết nhân viên, biến Xí nghiệp thành một ngôi nhà chung thứ hai cho người lao động.

4.2. Chú trọng đào tạo và tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp

Giải pháp này tập trung vào việc thỏa mãn nhu cầu tự thể hiện và được tôn trọng của người lao động. Xí nghiệp cần xây dựng một kế hoạch đào tạo và phát triển nghề nghiệp bài bản, dựa trên việc khảo sát nhu cầu đào tạo của nhân viên và định hướng phát triển của tổ chức. Các chương trình đào tạo không chỉ nâng cao chuyên môn mà còn phát triển các kỹ năng mềm cần thiết. Quan trọng hơn, cần thiết lập một lộ trình công danh rõ ràng cho từng vị trí, quy định cụ thể các tiêu chí để được thăng tiến. Khi nhân viên nhìn thấy cơ hội phát triển sự nghiệp công bằng và minh bạch tại Xí nghiệp, họ sẽ có động lực mạnh mẽ để học hỏi và phấn đấu, góp phần xây dựng đội ngũ kế thừa vững chắc cho tương lai.

V. Đánh giá hiệu quả tạo động lực làm việc qua các tiêu chí cốt lõi

Để đo lường sự thành công của các giải pháp tăng động lực, luận văn đã xác định các tiêu chí đánh giá cụ thể, giúp Xí nghiệp Bến xe – tàu Kiên Giang có cái nhìn khách quan về hiệu quả của các chính sách đã và sẽ triển khai. Các tiêu chí này không chỉ dừng lại ở các con số về năng suất mà còn bao hàm cả những yếu tố định tính, phản ánh thái độ và tinh thần của người lao động. Tiêu chí quan trọng hàng đầu là sự hài lòng của nhân viên. Mức độ hài lòng có thể được đo lường định kỳ thông qua các cuộc khảo sát, tập trung vào các khía cạnh như lương thưởng, môi trường làm việc, cơ hội phát triển và mối quan hệ với đồng nghiệp, cấp trên. Một tiêu chí khác là đánh giá hiệu quả công việc và năng suất lao động. Theo Bảng 2.9 và 2.10 trong tài liệu, việc theo dõi hiệu suất lao động theo phương tiện và số ghế là một cách định lượng hiệu quả. Sự cải thiện trong các chỉ số này sau khi áp dụng các chính sách mới sẽ là một minh chứng rõ ràng cho sự thành công. Cuối cùng, tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người lao động cũng là một chỉ số quan trọng. Một khi động lực được cải thiện, nhân viên sẽ tự giác hơn trong công việc, tích cực đề xuất sáng kiến và sẵn sàng đảm nhận thêm trách nhiệm.

5.1. Đo lường sự hài lòng của nhân viên qua khảo sát định kỳ

Đây là tiêu chí phản ánh trực tiếp cảm nhận của người lao động về các chính sách của tổ chức. Luận văn đã sử dụng phương pháp khảo sát để đánh giá sự hài lòng của nhân viên (Bảng 2.8). Xí nghiệp nên hệ thống hóa hoạt động này, thực hiện khảo sát ẩn danh định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm một lần. Nội dung khảo sát cần bao quát tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến động lực, từ chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc, văn hóa doanh nghiệp cho đến vai trò của người quản lý trực tiếp. Kết quả thu được sẽ là nguồn dữ liệu quý giá giúp ban lãnh đạo nhận diện các vấn đề còn tồn tại và điều chỉnh chính sách một cách kịp thời, đảm bảo các nỗ lực tạo động lực luôn đi đúng hướng.

5.2. Phân tích năng suất lao động và mức độ hoàn thành công việc

Năng suất lao động là thước đo định lượng quan trọng. Đối với Xí nghiệp Bến xe – tàu Kiên Giang, các chỉ số như hiệu suất lao động theo phương tiện vào cảng/bến (Bảng 2.9) và hiệu suất theo tổng số ghế (Bảng 2.10) cần được theo dõi và phân tích liên tục. Khi các giải pháp tăng động lực được áp dụng, kỳ vọng là các chỉ số này sẽ tăng lên. Bên cạnh đó, việc đánh giá hiệu quả công việc của từng cá nhân thông qua hệ thống KPIs cũng cho thấy mức độ hoàn thành công việc so với mục tiêu đề ra. Tỷ lệ nhân viên hoàn thành và vượt chỉ tiêu công việc là một minh chứng rõ nét cho thấy động lực làm việc của tập thể đang được cải thiện đáng kể.

01/10/2025
Luận văn thạc sĩ tạo động lực làm việc cho người lao động tại xí nghiệp bến xe tàu kiên giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. KHÁI QUÁT VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Các khái niệm cơ bản 1. Nhu cầu Nhu cầu là thuật ngữ nói đến hiện tượng tâm lý của con người, thể hiện những đòi hỏi, mong muốn, khát khao, nguyện vọng, của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.

Nhu cầu của con người rất đa dạng và phong phú, có thể là: Nhu cầu nhà ở, ăn mặc, đi lại, việc làm, điều kiện làm việc, nhu cầu học tập, nhu cầu vui chơi giải trí… nhu cầu của con người là vô hạn, mỗi người khác nhau có nhu cầu khác nhau. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng cao. Philip Kotler cho rằng: “Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được” [17] Theo định nghĩa của tác giả A. Kôvaliôp: “Nhu cầu là sự đòi hỏi của các cá nhân và của các nhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện nhất định để sống và phát triển” Từ điển Bách khoa toàn thư đưa ra định nghĩa: “Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.

Tuỳ theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.” Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt hay mất cân bằng của chính cá thể đó và từ đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu yếu đã được lập trình qua quá trình rất lâu 9 dài tồn tại, phát triển và tiến hóa. Như vậy, nhu cầu luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người và ngày càng đa dạng hơn. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy mạnh mẽ để con người hoạt động.

Trong tổ chức, việc tìm hiểu đúng và đáp ứng đúng nhu cầu cho người lao động là hết sức cần thiết. Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân và cũng là giải pháp hữu hiệu để giữ chân người lao động ở lại làm việc, tạo được sự kích thích, hứng thú, hăng say để NLĐ có thể cống hiến hết mình cho sự phát triển của tổ chức. Động lực làm việc Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này: Động lực là sự thúc đẩy bên trong mỗi con người để đáp ứng nhu cầu chưa được thỏa mãn. Động lực làm việc là sự khát khao, tự nguyện, sự nổ lực làm việc hướng tới mục tiêu.

Kích thích bên trong mỗi con người trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao cho tổ chức và người lao động Tác giả Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm thì cho rằng: “động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được mục tiêu của tổ chức” [6] Theo Maier và Lawler (1973), động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân. Kreiter (1995) cho rằng động lực lao động là một quá trình tâm lý mà nó định hướng cá nhân theo mục đích nhất định. Higgins (1994) lại đưa ra khái niệm động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn. Tác giả Bùi Anh Tuấn cho rằng: “động lực làm việc là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép, tạo ra 10 năng suất và hiệu quả cao.

Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. [9] Giáo trình Hành vi tổ chức “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao” Vì vậy, động lực là yếu tố xuất phát từ bên trong mỗi người, là sự khao khát và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt kết quả cụ thể, giúp con người hành động hay lựa chọn. Đó là trạng thái nội tại, tạo ra sự hưng phấn, thôi thúc con người thực hiện hành động có mục đích. Động lực làm việc bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như: Bản thân mỗi người, công việc, đồng nghiệp, môi trường làm việc, tổ chức… Các yếu tố này thường xuyên thay đổi, đa dạng và phức tạp, đòi hỏi người quản lý phải biết nắm bắt kịp thời những yếu tố đó.

Từ đó, định hướng động lực của mỗi người đi đúng hướng, đạt mục tiêu đề ra. Mỗi người lao động khi đảm nhiệm một công việc, một vị trí khác nhau sẽ có động lực làm việc khác nhau. Người lao động có động lực làm việc sẽ làm việc một cách tự giác, tạo ra những sản phẩm đa dạng, làm việc hăng say và có hiệu quả, góp phần giúp tổ chức hoạt động linh hoạt, trơn tru. Động lực làm việc không chỉ giúp người lao động kết nối với nhau tốt hơn trong công việc mà còn tăng cường sự gắn bó, đoàn kết về mặt tinh thần trong cùng một tập thể, cùng chung sức hỗ trợ nhau vì mục tiêu chung; Nếu không có động lực làm việc, người lao động sẽ làm việc với hình thức đối phó, ảnh hưởng đến không khí làm việc chung của tổ chức, hiệu quả công việc sẽ bị giảm.

Do động lực làm việc có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả làm việc nên tạo động lực làm việc luôn được quan tâm ở bất cứ tổ chức nào. Đây được coi là 11 một trong những chức năng quan trọng của nhà quản lý, là yếu tố mang tính quyết định sự thành bại của tổ chức. Tạo động lực làm việc Bản chất của động lực làm việc do xuất phát từ nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu của con người. Có động lực mọi người sẽ hăng hái làm việc, gắn bó và cống hiến cho tổ chức.

Tạo động lực làm việc là dùng những biện pháp cụ thể để kích thích người lao động làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình và có hiệu quả cao. Tạo động lực làm việc trong tổ chức sẽ giúp xây dựng bầu không khí làm việc thân thiện, cởi mở, có sự hợp tác chia sẻ, ít căng thẳng, ít tranh chấp; Người lao động của tổ chức sẽ dễ thích ứng với các thay đổi và không phản ứng tiêu cực với những thay đổi. Đây cũng chính là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động. Tạo động lực làm việc là nội dung được nhiều tác giả nghiên cứu: Tác giả Lê Thanh Hà cho rằng: Tạo động lực làm việc là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của người lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra.

Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức được thể hiện ở cách tổ chức đối xử với người lao động.[4] Tác giả Bùi Anh Tuấn cũng cho rằng: Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc.[9] Theo tác giả, tạo động lực làm việc chính là những chính sách, những biện pháp mà các nhà quản lý tạo ra dựa trên nhu cầu của NLĐ, tác động tới nhu cầu người lao động nhằm làm cho họ có động lực làm việc, kích thích, thúc đẩy để họ hài lòng hơn với công việc và gắn bó với tổ chức. Suy cho cùng, mục đích 12 của tạo động lực làm việc là làm tăng năng suất, chất lượng công việc và mang lại lợi ích cho người lao động và cho cả tổ chức Đối với bất kỳ mỗi quốc gia, việc tạo động lực làm việc cho đội ngũ người lao động có tầm quan trọng đặc biệt, vì họ là bộ phận quan trọng quyết định đến hiệu lực, hiệu quả của bộ máy, thúc đẩy xã hội đi lên, tăng trưởng kinh tế, góp phần phát triển nền kinh tế đất nước. Một số học thuyết liên quan đến tạo động lực làm việc 1. Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Abraham Maslow (1908 - 1970) là nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ.

Năm 1943, khi đưa ra nghiên cứu về động lực làm việc, ông cho rằng con người có nhiều nhu cầu khác nhau cần được thoả mãn. Tháp nhu cầu của Maslow có 5 bậc hình kim tự tháp. Những nhu cầu cơ bản nằm ở phía đáy tháp phải được thỏa mãn trước khi đến với các nhu cầu cao hơn. Nhu cầu được ông chia thành 5 bậc khác nhau theo thứ tự từ nhu cầu bậc thấp đến nhu cầu bậc cao, được mô phỏng như sau: Nguồn: PGS.

Lê Thanh Hà, Giáo trình Quản trị nhân lực tập II (2009) Hình 1.1: Tháp nhu cầu của Abraham Maslow Theo Abraham Maslow, 05 bậc nhu cầu của con người từ thấp đến cao 13 gồm: Nhu cầu về sinh lý: Trong năm bậc nhu cầu thì nhu cầu về sinh lý là nhu cầu thấp nhất, nhu cầu cơ bản của con người. Đây là nhu cầu cơ bản để con người duy trì cuộc sống như: nhu cầu ăn, mặc, nhu cầu uống, ngủ, nghỉ ngơi, nhà ở, đi lại, sinh lý. Đây là nhu cầu cơ bản nhất, cấp thiết nhất trong hệ thống thứ bậc của tháp nhu cầu, nếu thiếu hụt sẽ ảnh hưởng tới sự tồn tại của con người. Khi những nhu cầu này chưa được đáp ứng tới một mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác sẽ không tiến triển thêm.

Nhu cầu về an toàn: Khi con người thỏa mãn được nhu cầu ở bậc thấp nhất trong 5 bậc nhu cầu thì họ sẽ chinh phục nhu cầu cao hơn, nhằm tạo sự chắc chắn, ổn định và yên tâm hơn. Đó chính là nhu cầu về an toàn, nhu cầu gồm các vấn đề như: An toàn sức khỏe, môi trường làm việc, đảm bảo cuộc sống, an toàn lao động, an toàn nghề nghiệp, an toàn về gia đình, tài sản… Nhu cầu xã hội: Đó là một trong những nhu cầu bậc cao của con người, bao gồm nhu cầu gặp gỡ giao tiếp, giao lưu tình cảm, tình yêu thương, hoạt động tập thể, mối quan hệ giữa người với người, các cá nhân với tổ chức… Tạo kết nối rộng khắp, giúp hiểu nhau, tìm được tiếng nói chung.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ