CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. KHÁI QUÁT VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Các khái niệm cơ bản 1. Nhu cầu Nhu cầu là thuật ngữ nói đến hiện tượng tâm lý của con người, thể hiện những đòi hỏi, mong muốn, khát khao, nguyện vọng, của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.
Nhu cầu của con người rất đa dạng và phong phú, có thể là: Nhu cầu nhà ở, ăn mặc, đi lại, việc làm, điều kiện làm việc, nhu cầu học tập, nhu cầu vui chơi giải trí… nhu cầu của con người là vô hạn, mỗi người khác nhau có nhu cầu khác nhau. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng cao. Philip Kotler cho rằng: “Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được” [17] Theo định nghĩa của tác giả A. Kôvaliôp: “Nhu cầu là sự đòi hỏi của các cá nhân và của các nhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện nhất định để sống và phát triển” Từ điển Bách khoa toàn thư đưa ra định nghĩa: “Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.
Tuỳ theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.” Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt hay mất cân bằng của chính cá thể đó và từ đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu yếu đã được lập trình qua quá trình rất lâu 9 dài tồn tại, phát triển và tiến hóa. Như vậy, nhu cầu luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người và ngày càng đa dạng hơn. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy mạnh mẽ để con người hoạt động.
Trong tổ chức, việc tìm hiểu đúng và đáp ứng đúng nhu cầu cho người lao động là hết sức cần thiết. Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân và cũng là giải pháp hữu hiệu để giữ chân người lao động ở lại làm việc, tạo được sự kích thích, hứng thú, hăng say để NLĐ có thể cống hiến hết mình cho sự phát triển của tổ chức. Động lực làm việc Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này: Động lực là sự thúc đẩy bên trong mỗi con người để đáp ứng nhu cầu chưa được thỏa mãn. Động lực làm việc là sự khát khao, tự nguyện, sự nổ lực làm việc hướng tới mục tiêu.
Kích thích bên trong mỗi con người trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao cho tổ chức và người lao động Tác giả Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm thì cho rằng: “động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được mục tiêu của tổ chức” [6] Theo Maier và Lawler (1973), động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân. Kreiter (1995) cho rằng động lực lao động là một quá trình tâm lý mà nó định hướng cá nhân theo mục đích nhất định. Higgins (1994) lại đưa ra khái niệm động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn. Tác giả Bùi Anh Tuấn cho rằng: “động lực làm việc là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép, tạo ra 10 năng suất và hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. [9] Giáo trình Hành vi tổ chức “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao” Vì vậy, động lực là yếu tố xuất phát từ bên trong mỗi người, là sự khao khát và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt kết quả cụ thể, giúp con người hành động hay lựa chọn. Đó là trạng thái nội tại, tạo ra sự hưng phấn, thôi thúc con người thực hiện hành động có mục đích. Động lực làm việc bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như: Bản thân mỗi người, công việc, đồng nghiệp, môi trường làm việc, tổ chức… Các yếu tố này thường xuyên thay đổi, đa dạng và phức tạp, đòi hỏi người quản lý phải biết nắm bắt kịp thời những yếu tố đó.
Từ đó, định hướng động lực của mỗi người đi đúng hướng, đạt mục tiêu đề ra. Mỗi người lao động khi đảm nhiệm một công việc, một vị trí khác nhau sẽ có động lực làm việc khác nhau. Người lao động có động lực làm việc sẽ làm việc một cách tự giác, tạo ra những sản phẩm đa dạng, làm việc hăng say và có hiệu quả, góp phần giúp tổ chức hoạt động linh hoạt, trơn tru. Động lực làm việc không chỉ giúp người lao động kết nối với nhau tốt hơn trong công việc mà còn tăng cường sự gắn bó, đoàn kết về mặt tinh thần trong cùng một tập thể, cùng chung sức hỗ trợ nhau vì mục tiêu chung; Nếu không có động lực làm việc, người lao động sẽ làm việc với hình thức đối phó, ảnh hưởng đến không khí làm việc chung của tổ chức, hiệu quả công việc sẽ bị giảm.
Do động lực làm việc có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả làm việc nên tạo động lực làm việc luôn được quan tâm ở bất cứ tổ chức nào. Đây được coi là 11 một trong những chức năng quan trọng của nhà quản lý, là yếu tố mang tính quyết định sự thành bại của tổ chức. Tạo động lực làm việc Bản chất của động lực làm việc do xuất phát từ nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu của con người. Có động lực mọi người sẽ hăng hái làm việc, gắn bó và cống hiến cho tổ chức.
Tạo động lực làm việc là dùng những biện pháp cụ thể để kích thích người lao động làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình và có hiệu quả cao. Tạo động lực làm việc trong tổ chức sẽ giúp xây dựng bầu không khí làm việc thân thiện, cởi mở, có sự hợp tác chia sẻ, ít căng thẳng, ít tranh chấp; Người lao động của tổ chức sẽ dễ thích ứng với các thay đổi và không phản ứng tiêu cực với những thay đổi. Đây cũng chính là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động. Tạo động lực làm việc là nội dung được nhiều tác giả nghiên cứu: Tác giả Lê Thanh Hà cho rằng: Tạo động lực làm việc là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của người lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra.
Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức được thể hiện ở cách tổ chức đối xử với người lao động.[4] Tác giả Bùi Anh Tuấn cũng cho rằng: Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc.[9] Theo tác giả, tạo động lực làm việc chính là những chính sách, những biện pháp mà các nhà quản lý tạo ra dựa trên nhu cầu của NLĐ, tác động tới nhu cầu người lao động nhằm làm cho họ có động lực làm việc, kích thích, thúc đẩy để họ hài lòng hơn với công việc và gắn bó với tổ chức. Suy cho cùng, mục đích 12 của tạo động lực làm việc là làm tăng năng suất, chất lượng công việc và mang lại lợi ích cho người lao động và cho cả tổ chức Đối với bất kỳ mỗi quốc gia, việc tạo động lực làm việc cho đội ngũ người lao động có tầm quan trọng đặc biệt, vì họ là bộ phận quan trọng quyết định đến hiệu lực, hiệu quả của bộ máy, thúc đẩy xã hội đi lên, tăng trưởng kinh tế, góp phần phát triển nền kinh tế đất nước. Một số học thuyết liên quan đến tạo động lực làm việc 1. Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Abraham Maslow (1908 - 1970) là nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ.
Năm 1943, khi đưa ra nghiên cứu về động lực làm việc, ông cho rằng con người có nhiều nhu cầu khác nhau cần được thoả mãn. Tháp nhu cầu của Maslow có 5 bậc hình kim tự tháp. Những nhu cầu cơ bản nằm ở phía đáy tháp phải được thỏa mãn trước khi đến với các nhu cầu cao hơn. Nhu cầu được ông chia thành 5 bậc khác nhau theo thứ tự từ nhu cầu bậc thấp đến nhu cầu bậc cao, được mô phỏng như sau: Nguồn: PGS.
Lê Thanh Hà, Giáo trình Quản trị nhân lực tập II (2009) Hình 1.1: Tháp nhu cầu của Abraham Maslow Theo Abraham Maslow, 05 bậc nhu cầu của con người từ thấp đến cao 13 gồm: Nhu cầu về sinh lý: Trong năm bậc nhu cầu thì nhu cầu về sinh lý là nhu cầu thấp nhất, nhu cầu cơ bản của con người. Đây là nhu cầu cơ bản để con người duy trì cuộc sống như: nhu cầu ăn, mặc, nhu cầu uống, ngủ, nghỉ ngơi, nhà ở, đi lại, sinh lý. Đây là nhu cầu cơ bản nhất, cấp thiết nhất trong hệ thống thứ bậc của tháp nhu cầu, nếu thiếu hụt sẽ ảnh hưởng tới sự tồn tại của con người. Khi những nhu cầu này chưa được đáp ứng tới một mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác sẽ không tiến triển thêm.
Nhu cầu về an toàn: Khi con người thỏa mãn được nhu cầu ở bậc thấp nhất trong 5 bậc nhu cầu thì họ sẽ chinh phục nhu cầu cao hơn, nhằm tạo sự chắc chắn, ổn định và yên tâm hơn. Đó chính là nhu cầu về an toàn, nhu cầu gồm các vấn đề như: An toàn sức khỏe, môi trường làm việc, đảm bảo cuộc sống, an toàn lao động, an toàn nghề nghiệp, an toàn về gia đình, tài sản… Nhu cầu xã hội: Đó là một trong những nhu cầu bậc cao của con người, bao gồm nhu cầu gặp gỡ giao tiếp, giao lưu tình cảm, tình yêu thương, hoạt động tập thể, mối quan hệ giữa người với người, các cá nhân với tổ chức… Tạo kết nối rộng khắp, giúp hiểu nhau, tìm được tiếng nói chung.