Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận, gợi ý chính sách và hướng phát triển mới cho bài nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Phần này cho chúng ta một cái nhìn tổng quan về chiều hướng của các mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô trên thông qua một số các lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu, các nhà kinh tế học… trong thời gian vừa qua.1 Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế 2.1 Một số học thuyết liên quan về mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế Nhiều học thuyết kinh tế đã được đưa ra để giải thích mối quan hệ giữa 2 nhân tố này. Theo mô hình tăng trưởng tân cổ điển (lý thuyết tăng trưởng của Robert Solow) được đưa ra từ những năm 1956, giải thích tăng trưởng kinh tế trong dài hạn dựa vào những yếu tố như năng suất, tích lũy vốn, tỷ lệ tăng lao động, tiến bộ khoa học kỹ thuật. Tuy nhiên, lý thuyết này lại kết luận rằng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài này chỉ đơn thuần làm tăng tỷ lệ đầu tư và dẫn đến một sự tăng lên trong tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người nhưng lại không tác động đến tăng trưởng kinh tế trong lâu dài.
Chính yếu tố công nghệ mới giúp tạo ra gia tăng vốn đầu tư, yếu tố quan trọng để tích lũy và tăng trưởng kinh tế, chứ không phải chỉ là vốn ban đầu. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh ra đời vào những năm cuối thế kỉ XX, lại cho rằng đầu tư vào nguồn nhân lực, các cải tiến khoa học kỹ thuật, tri thức sẽ là những nhân tố quan trọng góp phần tăng trưởng kinh tế. Thông qua hiệu ứng tràn công nghệ thì dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nhân tố đóng góp lớn vào sự tăng trưởng kinh tế quốc gia trong dài hạn. Các tập đoàn đa quốc gia được xem là những kênh truyền dẫn, chuyển giao công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (thông qua các khóa học đào tạo, huấn luyện kĩ năng nghề nghiệp, quản lý, các hoạt động nghiên cứu và phát triển…) tại các quốc gia nơi nguồn vốn đầu tư chảy vào… góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
6 Lý thuyết chiết trung (Dunning – 1998) cung cấp một hướng tiếp cận mới về mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế. Phân tích về lợi thế cạnh tranh, tác giả chỉ ra việc thu hút dòng vốn đầu tư FDI vào một quốc gia hay khu vực phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố và đặc điểm riêng của quốc gia nhận đầu tư. Các dòng vốn FDI đi vào thị trường các nước đang phát triển hoặc thị trường các nước mới nổi là để tận dụng nguồn tài nguyên và lao động giá rẻ, mở rộng thị trường tiêu thụ, khai thác thị trường nội địa; do đó, quy mô thị trường (GDP) là một trong những nhân tố chính giúp thu hút nguồn vốn đầu tư FDI… lý thuyết ủng hộ cho quan điểm hướng của mối quan hệ nhân quả giữa 2 nhân tố này là từ tăng trưởng đến dòng vốn đầu tư FDI.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế Ngoài các học thuyết kinh tế được nói trên thì bên cạnh đó cũng có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành để xem xét mối quan hệ giữa 2 nhân tố này; tuy nhiên, kết quả của những nghiên cứu này lại đưa ra những kết luận trái ngược nhau.1 Tác động tích cực của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng ảnh hưởng của FDI lên tăng trưởng kinh tế là ảnh hưởng có điều kiện. De Gregorio (1992) bằng cách xem xét dữ liệu bảng của 12 quốc gia Mỹ Latinh trong giai đoạn 1950-1985, tìm thấy rằng FDI thúc đẩy tăng trưởng gấp 3 lần so với tổng đầu tư quốc nội1.
Bloomstrom, Lipsey và Zejan (1996) cũng tìm thấy một kết luận tương tự khi sử dụng mẫu lớn hơn các quốc gia đang phát triển (78 quốc gia); họ đã chia các quốc gia trong mẫu thành 2 nhóm, một nhóm gồm 1Gross domestic investment (hay còn gọi là gross capital formation): bao gồm các khoản chi tiêu để mở rộng, nâng cấp các tài sản cố định của nền kinh tế cộng với những thay đổi ròng trong hàng tồn kho. Tài sản cố định bao gồm nhà xưởng, máy móc thiết bị, đường xá, trường học, bệnh viện…. Hàng tồn kho gồm các hàng hóa nắm giữ bởi các công ty để đáp ứng cho những biến động bất thường và tạm thời trong sản xuất và kinh doanh. 7 các quốc gia có thu nhập cao hơn và nhóm còn lại là các quốc gia có thu nhập thấp.
Và họ đã tìm thấy bằng chứng cho thấy FDI dẫn đến tăng trưởng kinh tế; tuy nhiên đóng góp tích cực của FDI vào tăng trưởng là có điều kiện, theo các tác giả FDI khuyến khích tăng trưởng nhiều hơn khi quốc gia nhận FDI có hệ số thu nhập trên đầu người cao hơn, với các quốc gia có thu nhập thấp hơn, các nhân tố khác như giáo dục đóng vai trò quan trọng hơn. Hệ số hồi quy cho các quốc gia có thu nhập cao hơn và thấp hơn lần lượt là 0. Họ cũng tiến hành kiểm định nhân quả để xem xét hướng của ảnh hưởng. Kết quả cho thấy tồn tại mối quan hệ nhân quả từ FDI đến tăng trưởng.
Bằng chứng chỉ ra các quốc gia đang phát triển với thu nhập cao hơn mới nhận được các lợi ích từ FDI gợi ý rằng có lẽ các nhân tố khác sẽ quyết định một quốc gia sẽ nhận được bao nhiêu lợi ích từ FDI. Các nghiên cứu sau đó đã nỗ lực để nhận diện các nhân tố này. Balasubramanyam Salisu và Dapsoford (1996) đã nhấn mạnh vào tầm quan trọng của độ mở cửa thương mại như một nhân tố quan trọng để đạt được ảnh hưởng đến tăng trưởng từ FDI. Borensztein Gregorio và Lee (1998) lại cho thấy rằng các quốc gia cần có một mức độ nhất định về vốn nhân lực2 để có thể nhận được lợi ích đầy đủ từ FDI.
Mặc dù FDI có thể đem đến công nghệ và kỹ thuật, nhưng quốc gia nhận đầu tư cũng cần phải có nguồn lao động có chất lượng để khai thác các lợi ích do FDI mang lại. Có thể thấy FDI không phải là phương thuốc chữa bách bệnh. De Mello (1999) đã xem xét mối quan hệ nhân quả giữa FDI và tăng trưởng ở 32 quốc gia (15 quốc gia thuộc OECD và 17 quốc gia không thuộc OECD) trong giai đoạn 1970-1990. Kết quả cho thấy rằng mặc dù FDI thúc đẩy tăng trưởng dài hạn, tuy nhiên mức độ FDI ảnh hưởng đến tăng trưởng phụ thuộc vào mức độ bổ sung và 2 Human capital: thuật ngữ được tạo ra bởi Theodore Schultz vào những năm 1960, để đo lường chất lượng lực lượng lao động của một nền kinh tế, ông tin rằng vốn nhân lực cũng quan trọng giống như bất kỳ một loại vốn nào khác, và có thể được cải thiện thông qua giáo dục, huấn luyện.
và cuối cùng sẽ đem đến giá trị kinh tế cho cả người sử dụng lao động và cả nền kinh tế nói chung. 8 thay thế giữa FDI và đầu tư trong nước. Alfaro, Chandra, Kalemli-Ozcan và Sayek (2000) cho rằng FDI sẽ thúc đẩy tăng trưởng ở các quốc gia có thị trường tài chính phát triển hợp lý. (2000) sử dụng dữ liệu bảng gồm 24 nước đang phát triển giai đoạn 1971 – 1995 sử dụng phương pháp ước lượng dữ liệu bảng hỗn hợp giữa cố định và ngẫu nhiên (MFR) để xem xét sự không đồng nhất giữa các quốc gia.
Và đưa ra kết luận rằng: Dòng vốn đầu tư FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế; tuy nhiên, mối quan hệ này là không đồng nhất giữa các quốc gia. Và họ cũng chỉ ra rằng, trong khi đầu tư nội địa dường như là có tương quan mạnh mẽ với tăng trưởng ở hiện tại thì đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lại cho thấy mối quan hệ nhân quả mạnh mẽ với tăng trưởng kinh tế trong tương lai. Zhang (2001) trong nghiên cứu của mình tác giả đã cung cấp một đánh giá thực nghiệm về mối quan hệ này bằng cách sử dụng dữ liệu của 11 quốc gia ở Mỹ Latinh và Đông Á, tác giả tìm thấy mối quan hệ nhân quả Granger mạnh mẽ giữa dòng vốn đầu tư (FDI) và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra rằng ngoài nhân tố dòng vốn FDI thì những đặc trưng riêng của từng quốc gia cũng có những ảnh hưởng nhất định đến tăng sự trưởng kinh tế của quốc gia đó.
Đặc biệt, dòng vốn đầu tư FDI sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhiều hơn khi quốc gia nhận đầu tư áp dụng chế độ tự do hóa thương mại, cải thiện giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, khuyến khích FDI định hướng xuất khẩu, duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô… tạo điều kiện thuận lợi cho các dòng vốn đầu tư chảy vào giúp phát triển kinh tế quốc gia. Nguyễn Thị Phương Hoa (2004) đã tiến hành tìm hiểu tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế thông qua sự phân tích về mối quan hệ giữa FDI và sự nghèo đói. Nghiên cứu kết luận rằng FDI thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia thông qua việc hình thành và tích lũy tài sản vốn bên cạnh sự tương tác liên tục, tích cực giữa FDI và nguồn nhân lực. Tuy nhiên, tác động tràn tích cực của FDI chỉ xuất hiện ở cấp độ quốc gia ở các ngành chế biến nông lâm sản.
9 Nguyễn Thị Tuệ Anh, Vũ Xuân Nguyệt Hồng, Trần Toàn Thắng và Nguyễn Mạnh Hải (2006) đã tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tới tăng trưởng kinh tế (GDP) ở Việt Nam bằng cách sử dụng kỹ thuật phân tích định lượng và mô hình tác động đã tìm thấy rằng FDI có những ảnh hưởng tích cực đến GDP của Việt Nam và mức độ mà FDI đóng góp đều tăng lên khi Việt Nam chính thức tham gia vào nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới.