CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 1. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 1. Khái niệm Quản trị rủi ro tín dụng là một khái niệm rộng với nội hàm gồm nhiều nội dung khác nhau trong quản trị điều hành một ngân hàng. Do đó có nhiều cách hiểu nên có nhiều khái niệm khác nhau về vấn đề này.
Song theo tác giả thì quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, chính sách, biện pháp có liên quan đến hoạt động tín dụng để nhằm ngăn ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng (Nguyễn Tuấn Anh, 2016). Theo khái niệm trên thì nội hàm của quản trị rủi ro tín dụng bao gồm một hệ thống: - Chiến lược hoạt động tín dụng. - Các chính sách của ngân hàng trong hoạt động tín dụng. - Các biện pháp được triển khai trong toàn bộ hệ thống NHTM nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng.
Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng Quản trị rủi ro tín dụng phải gắn liền với quản trị và kinh doanh tín dụng một trong những hoạt động chủ đạo của ngân hàng. Quản trị rủi ro tín dụng phải hướng vào việc bảo đảm hiệu quả của hoạt động tín dụng và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng ngay cả trong những điều kiện thị trường đầy biến động, nguy cơ rủi ro không ngừng gia tăng, Nói một cách cụ thể hơn thì quản trị rủi ro tín dụng phải nhằm vào việc hạ thấp rủi ro tín dụng, nâng cao mức độ an toàn cho kinh doanh của mỗi ngân hàng thương mại bằng các chính sách, các biện pháp quản lý, giám sát hoạt động tín dụng khoa học và hiệu quả. Vai trò của công tác quản trị rủi ro tín dụng đối với ngân hàng Rủi ro trong kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế thị trường luôn luôn là vấn đề cần được quan tâm, do hoạt động ngân hàng có tính nhạy cảm cao, ảnh hưởng mạnh đến sự ổn định kinh tế- xã hội. Nếu một ngân hàng nào 16 đó gặp rủi ro, lâm vào tình trạng thiếu khả năng thanh toán, có nguy cơ hoặc thực sự đi đến phá sản, dễ gây tâm lý hoảng loạn, khiến mọi người đổ xô đi rút tiền gửi của mình thật nhanh để tránh bị tổn thất, gây đổ vở hệ thống.
Lịch sử hoạt động ngân hàng trên thế giới đã chứng kiến không ít các ngân hàng lớn bị phá sản, mà hậu quả của nó thậm chí không giới hạn trong phạm vi một quốc gia mà lan ra cả nhiều nước trong khu vực hay toàn cầu. Cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ tại châu Á năm 1997 đã làm cho nhiều ngân hàng, tổ chức tài chính của các nước trong khu vực bị phá sản. Nhiều ngân hàng nhỏ ở Thái lan, Nhật Bản, Indonesia, Philippin. đã phải sáp nhập hoặc bị các ngân hàng lớn mua lại, nhiều công ty tài chính, môi giới chứng khoán đã bị phá sản.
Tương tự cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cấp nhà ở tại Mỹ cuối năm 2008 đã ảnh hưởng đến hàng loạt nền kinh tế khác và gây nên khủng hoảng tài chính toàn cầu, được ví là cuộc khủng hoảng lớn nhất kể từ năm 1933 đến nay. Nếu những tổn thất do rủi ro trong hoạt động tín dụng gây ra ở mức kiểm soát được thì việc xử lý tương đối dễ dàng trong giới hạn cho phép của quỹ dự phòng bù đắp rủi ro của TCTD. Nhưng khi tổn thất lớn, vượt quá khả năng xừ lý của TCTD thì vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng, gây hậu quả khó lường không những cho chính TCTD đó, mà còn cho cả những TCTD và doanh nghiệp khác có liên quan, ảnh hưởng tới quyền lợi người gửi tiền và cuối cùng, ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế, và là nguy cơ tiềm ẩn cho khủng hoảng tài chính. Tóm lại, công tác quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng nói chung, trong hoạt động tín dụng nói riêng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại của mồi ngân hàng.
Nếu công tác quản trị rủi ro tín dụng được thực hiện tốt, sẽ hạn chế được những rủi ro xảy ra đối với ngân hàng, làm tăng thu nhập của ngân hàng. Ngoài ra, công tác quản trị rủi ro nếu được thực hiện tốt còn tạo điều kiện cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế nói chung. Vì khi rủi ro được hạn chế, tức là ngân hàng đã cung cấp vốn một cách có hiệu quả cho nền kinh tế và đó chính là động lực phát triển nền kinh tế. Một số yêu cầu trong quản trị rủi ro tín dụng 17 1.Trách nhiệm của ban điều hành Ban điều hành mà không phải là ai khác phải chịu trách nhiệm bảo đảm hoạt động tín dụng cũng như quản trị rủi ro tín dụng của tổ chức mình hoạt động một cách đúng đắn.
Để làm được việc này, học phải có khả năng đánh giá được rủi ro và có các biện pháp cần thiết để hạn chế rủi ro. Chiến lược rủi ro tín dụng Tổ chức tín dụng phải đề ra chiến lược kinh doanh tín dụng trên cơ sở phân tích tình hình kinh doanh hiện tại đánh giá rủi ro liên quan đến hoạt động cho vay cũng như khả năng chịu đựng rủi ro của mình. Chiến lược này phải được ban điều hành xem xét lại hàng năm, phải lập kế hoạch xu hướng tổng thể của việc kinh doanh tín dụng. Tổ chức hoạt động tín dụng Trên cơ sở xem xét phạm vi, sự phức tạp và tính rủi ro của hoạt động kinh doanh tín dụng, tổ chức tín dụng phải tổ chức được hệ thống kinh doanh tín dụng với quy trình hoạt động tín dụng phù hợp, hiệu quả những đảm bảo rủi ro tín dụng được hạn chế trong phạm vi kiểm soát được, được ghi thành văn bản rõ ràng và được phổ biến đến mọi cán bộ, nhân viên có liên quan.
Quy trình hoạt động tín dụng phải được xem xét lại theo định kỳ, phải thể hiện được rõ các đặc điểm sau: Sự phân tách chức năng Một trong những nguyên tắc cơ bản nhất trong hoạt động kinh doanh cũng như trong hoạt động cho vay là phải có sự phân tác chức năng giữa bộ phận giao dịch với khách hàng với bộ phận thẩm định là quyết định, theo dõi cho vay. Sự phân tách chức năng này đảm bảo được tính khách quan trong việc đưa ra quyết định cũng như đánh giá. Bộ phận đánh giá rủi ro tín dụng cũng phải được phân tách với bộ phận kinh doanh tín dụng. Các báo cáo về rủi ro tín dụng cũng do bộ phận này thực hiện.
Nguyên tắc bỏ phiếu trong quyết định cho vay Để tránh sự thiên vị hay ưu tiên trong việc ra quyết định cho vay, nguyên tắc bỏ phiếu với sự tham gia của bộ phận giao dịch với khách hàng và bộ phận thẩm 18 định, theo dõi sau cho vay được thực hiện. Cấp quản lý ở các mức cấp độ khác nhau được quyền ra quyết định cho vay trong phạm vi hạn mức được giao của mình. Đảm bảo nguyên tắc kiểm soát nội bộ Quy trình tín dụng phải nêu rõ được tất cả các bước tác nghiệp cũng như kết quả của tất cả các bước tác nghiệp. Tại tất cả các khâu trong các bước tác nghiệp có khả năng gây ra rủi ro đều phải được đặt các chốt kiểm tra như thế nào đó để người có trách nhiệm xử lý sau đó với một hình thức nào đó, nghĩa là phải đảm bảo được “nguyên tắc bốn mắt”.
Các chốt kiểm tra ngay trong quy trình tín dụng phải được bố trí một cách phù hợp, nếu nhiều quá có thể tăng khả năng quản trị rủi ro nhưng gây tốn kém, nếu ít quá có thể giảm được chi phí những có thể gây ra rủi ro cao hơn. Vấn đề là tổ chức tín dụng phải tìm được điểm cân bằng trong vấn đề này. Điều quan trọng là quy trình hoạt động tín dụng phải bảo đảm mọi việc được xử lý một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời và đúng thẩm quyền. Mọi bước xử lý công việc cũng như mọi chỉ thị của lãnh đạo đều phải được thể hiện bằng văn bản, việc chỉ đạo chỉ bằng lời nói hay thể hiện bằng dấu hiệu không rõ ràng của một lãnh đạo nào mà không được nêu trong quy trình là không thể chấp nhận được.
Quy trình hoạt động tín dụng với nhiều công đoạn xử lý Quy trình hoạt động tín dụng cũng có thể viết dưới dạng sổ tay chi tiết. Quy trình phải thể hiện được đầy đủ các công đoạn xử lý, cùng đầy đủ các chi tiết của từng công đoạn, bao gồm công đoạn thẩm định cho vay, ra quyết định cho vay, giải ngân, theo dõi sau cho vay, giám sát toàn bộ quá trình cho vay, theo dõi đặc biệt một số khoản vay, xử lý các món cho vay có vấn đề, dự phòng rủi ro… Các tiêu chuẩn cụ thể, chi tiết để xử lý công việc, để ra quyết định, các vấn đề liên quan đến các loại hình tín dụng… cũng như trình độ cần phải có của cán bộ, nhân viên có liên quan ở từng vị trí phải được quy định một các cụ thể và phù hợp. Cần quy định rõ những vấn đề nào chỉ do bộ phận thẩm định, xử lý sau cho vay thực hiện mà không thể do bộ phận giao dịch với khách hàng thực hiện. Hệ thống thông tin báo cáo 19 Tổ chức tín dụng phải có hệ thống xử lý thông tin phù hợp.
Ban điều hành phải được báo cáo đầy đủ chính xác, kịp thời về diễn biến hoạt động tín dụng cũng như mọi vấn đề phát sinh có khả năng gây ra rủi ro. Trên cơ sở đó, Ban điều hành phải có được các biện pháp ứng phó kịp thời, hiệu quả. Hệ thống lưu trữ, hệ thống IT Ngoài việc các chứng từ, tài liệu liên quan đến hoạt động tín dụng phải được lưu trữ trong một thời gian hợp lý, việc bảo đảm an toàn cho chứng từ, tài liệu cũng cần được quy định rõ ràng trong quy trình tín dụng, trong đó quy định rõ thẩm quyền được tiếp cận số liệu, chứng từ, hồ sơ, vấn đề chống cháy nổ, chống lụt, mất cắp… Việc sử dụng hệ thống IT cần có mã an toàn, có quy định thẩm quyền tiếp cận, thẩm quyền xử lý dữ liệu, biện pháp chống tin tặc và biện pháp khôi phục dữ liệu khi hệ thống xảy ra sự cố. Các tổ chức tín dụng lớn có thể sử dụng một hệ thống dự phòng để hạn chế rủi ro có thể phát sinh khi hệ thống IT gặp sự cố.