CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả không đúng hạn cho ngân hàng [10, tr. Như vậy có thể nói rằng rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đó ngân hàng là chủ nợ, mà khách hàng lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn.
Đây là loại rủi ro gắn liền với hoạt động tín dụng ngân hàng. Về mặt định lượng: Rủi ro tín dụng được phản ánh bởi chính số lượng nợ quá hạn, nợ tồn đọng của mỗi tổ chức tín dụng. Về mặt định tính: Rủi ro tín dụng có quan hệ ngược chiều với chất lượng tín dụng. Theo đó chất lượng tín dụng càng cao thì mức độ rủi ro càng cao và ngược lại, chất lượng tín dụng thấp, nợ quá hạn cao thì rủi ro tín dụng là rất lớn và có tác động ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Khái niệm và phân loại rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân 1. Khái niệm rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng lại là hoạt động có nhiều rủi ro và phức tạp nhất. Ngân hàng thương mại luôn đặt ra mục tiêu tối 8 đa hóa lợi nhuận, đồng thời tối thiểu hóa rủi ro.
Để đặt được mục tiêu đó đòi hỏi Ngân hàng thương mại phải có những giải pháp thích hợp để quản lý và phòng ngừa rủi ro tín dụng.Thực tế đã có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng, cụ thể như sau: Theo Timothy W.Koch: “Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn” (Timothy W. Theo khoản 1, điều 3 Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN về “Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng do khách hàng vay là cá nhân, hộ gia đình không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi.
Phân loại rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân Rủi ro tín dụng nói chung và rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân nói riêng xảy ra khi người vay không trả được nợ lãi và nợ gốc đúng hạn, đầy đủ. Dựa trên phương thức quản lý rủi ro tín dụng hiện nay, ta cũng có thể phân chia rủi ro tín dụng KHCN thành bốn cấp độ theo mức độ rủi ro [4, tr. Sơ đồ về phân loại RRTD khách hàng cá nhân (Nguồn: [12,tr 12]) - Không thu được lãi đúng hạn: đây là cấp độ thấp nhất là khi người vay không trả được lãi đúng hạn, khi đó Ngân hàng sẽ chuyển số lãi đó vào khoản mục lãi treo phát sinh. Hình thức rủi ro này được xếp vào mức rủi ro thấp vì ngoại trừ trường hợp khách hàng muốn quỵt nợ, chiếm dụng vốn thì phần lớn đều xuất phát từ việc thiếu cân đối trong kỳ hạn thu nợ và trả nợ của khách hàng.
- Không thu được vốn đúng hạn: khi không thu được vốn đúng hạn tình hình dường như nghiêm trọng hơn, một phần do một lượng vốn cho vay lớn bị mất. Khi đó, Ngân hàng sẽ chuyển số nợ vốn đó sang mục nợ quá hạn phát sinh. Khoản mục này phát sinh vào thời gian đáo hạn của hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, đấy chưa phải là khoản mất mát hiện thực của Ngân hàng vì có thể tiến độ hoạt động kinh doanh của khách hàng bị chậm so với kế hoạch đã đề ra trình Ngân hàng.
- Không thu được đủ lãi: khi Ngân hàng không thu được đủ lãi thì tình hình đã trở nên nghiêm trọng hơn. Tình hình kinh doanh của khách hàng có 10 thể đã kém hiệu quả đến mức không thể trả đủ lãi cho Ngân hàng. Khi đó, Ngân hàng phải chuyển khoản lãi này vào khoản mục lãi treo đóng băng và thậm chí có thể phải thực hiện miễn giảm lãi cho khách hàng. - Không thu đủ vốn cho vay: tình huống xấu nhất xảy ra khi ngân hàng không thu đủ vốn cho vay và lúc này Ngân hàng đã bị mất vốn.
Tại thời điểm này, Ngân hàng sẽ chuyển khoản nợ vào mục nợ không có khả năng thu hồi. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân là một bộ phận của quản trị rủi ro tín dụng nằm trong khuôn khổ quản trị rủi ro chung của ngân hàng thương mại. Ban lãnh đạo ngân hàng có trách nhiệm xây dựng mục tiêu, chiến lược, nhiệm vụ kinh doanh đối với đối tượng khách hàng cá nhân, trong đó xác định rõ lợi nhuận và rủi ro của ngân hàng để thiết lập một hệ thống kiểm soát và quản lý rủi ro tín dụng cá nhân hiệu quả. Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân là quá trình nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân nhằm tối đa hóa lợi nhuận của ngân hàng với mức rủi ro có thể chấp nhận được.
Mục đích quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân Bảo vệ ngân hang trước những thất bại/tổn thất không dự tính trước: Do không lường và tránh được tất cả thất bại/tổn thất trong hoạt động tín dụng, NHTM phải tự xây dựng và thực hiện các chính sách về quản trị rủi ro tín dụng với mục đích tự bảo vệ mình trước các thất bại/tổn thất trong quá trình hoạt động tín dụng. Bảo đảm mức độ rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải gánh chịu không vượt quá khả năng về vốn và tài chính của ngân hàng: Rủi ro tín dụng luôn được giám sát chặt chẽ với các tiêu chí đo lường, cảnh báo theo các mức độ khác nhau để đảm bảo rằng rủi ro tín dụng được kiểm soát và không vượt quá khả 11 năng về vốn và tài chính của ngân hàng. Bảo đảm không ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và tồn tại của ngân hàng: Hiệu quả kinh doanh tín dụng của NHTM tùy thuộc vào năng lực quản trị rủi ro tín dụng. Do đó, mục đích của quản trị rủi ro hoạt động tín dụng của NHTM phải đảm bảo rằng nếu có xảy ra rủi ro tín dụng cũng phải tuân thủ nguyên tắc không được ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và tồn tại của ngân hàng.
Với mục đích trên thì quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân là hoạt động tất yếu, thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng. Quản trị rủi ro tín dụng tốt là yếu tố chủ yếu quyết định thành công của ngân hàng. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và nền kinh tế xã hội Rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội của một quốc gia và lan rộng trên phạm vi toàn cầu. * Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng - Khi RRTD xảy ra, Ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng vẫn phải trả phí vay ngân hàng cấp trên và lãi cho người gửi tiền khi đến hạn, gây mất cân đối thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, chi phí tăng.
- Từ đó, bắt buộc phải thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút, uy tín, sức cạnh tranh giảm không những đối với thị trường nội địa mà còn lan rộng sang các nước, kết quả kinh doanh của ngân hàng ngày càng xấu có thể dẫn đến thua lỗ hoặc đưa đến bờ vực phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời. * Ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội - Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính, có chức năng huy động 12 vốn nhàn rỗi để cho vay lại, nên khi có RRTD xảy ra thì chẳng những ngân hàng bị thiệt mà quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng. Vì vậy, khi một ngân hàng gặp phải RRTD sẽ có tác động dây chuyền, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn. Khi uy tín của ngân hàng giảm sút, hệ thống ngân hàng không còn khả năng thực hiện chức năng trung gian tài chính thì sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cá nhân và dẫn đến thất nghiệp.
Hơn nữa, sự đổ vỡ của ngân hàng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế, làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp và xã hội mất ổn định, … Như vậy, RRTD khách hàng cá nhân của Ngân hàng xảy ra ở những mức độ khác nhau. Nếu kéo dài thì Ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong khi cấp tín dụng.