CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THUẾ TNCN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ THUẾ TNCN 1. Cơ sở lý thuyết về thuế 1. Khái niệm về thuế Cho đến nay trong các sách báo kinh tế trên thế giới vẫn chưa có thống nhất tuyệt đối về khái niệm thuế.
Đứng trên các góc độ khác nhau theo các quan điểm của các nhà kinh tế thì có định nghĩa khác nhau về thuế. Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze (1934) cho rằng: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước”. Đay là khái niẹm được ra đời khá sớm và cũng rất nổi tiếng về thuế, có tính khái quát cao, được coi là co sở của các khái niẹm sau này. Tác giả Stiglit , oseph E (1995) định nghĩa “Thuế hay thu NSNN là viẹc Nhà nuớc dùng quyền lực của mình để tạp trung mọt phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nuớc.
Thuế là số tiền thu của các cong dan, hoạt đọng và đồ vạt (nhu giao dịch, tài sản nhằm huy đọng tài chính cho chính quyền, nhằm tái phan phối thu nhạp, hay nhằm điều tiết các hoạt đọng kinh tế - xã họi”. Tren góc đọ Kinh tế học, theo tài liẹu “Khái niẹm và đạc điểm của thuế” của Thư viẹn Học liẹu Mở Viẹt Nam VO R : “Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước”. Tại điều 4, Luạt Quản lý thuế số 7 200 QH11 của Quốc họi nước Cọng hòa xã họi chủ nghĩa Viẹt Nam thong qua ngày 29 11 200 có đề cạp đến khái niẹm về thuế như sau: “Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN. Nọp thuế theo quy định của pháp luạt là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhan.
Co quan, tổ chức, cá nhan có trách nhiẹm tham gia quản lý thuế.” 9 Như vạy, mạc dù có nhiều cách định nghĩa về thuế nhưng chúng ta đều có thể nhạn thấy n t chung sau: Thuế khong chỉ là nguồn thu chính của quốc gia mà còn là cong cụ điều tiết vĩ mo quan trọng của Nhà nước. Đay là khoản thu nọp mang tính bắt buọc mà các tổ chức hoạc cá nhan trong xã họi phải nọp cho Nhà nước khi có đủ điều kiẹn nhất định. Mối quan hẹ gắn bó này giữa Nhà nước và NNT khong thay đổi trong những xã họi có chế đọ kinh tế, chính trị khác nhau. Bất kể xã họi nào cũng thể hiẹn quan hẹ thu và nọp như nhau.
Và nguồn thu tài chính từ mối quan hẹ này sẽ giúp Nhà nước thực hiẹn thỏa mãn các nhu cầu phát triển về kinh tế và xã họi của quốc gia đó. Dựa vào những đặc trưng trên, ta có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế theo xu hướng cổ điển vẫn đang được áp dụng phổ biến, đặc biệt trong cơ chế thị trường, dựa trên khái niệm về thuế của Gaston Jeze trong Giáo trình Tài chính công, có thể đưa ra khái niệm tổng quát về thuế mà tác giả cho rằng phù hợp với giai đoạn hiện nay như sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Từ sự phân tích khái quát đó có thể cho thấy, thuế là một khoản thu của ngân sách nhà nước mang tính bắt buộc, không mang tính hoàn trả trực tiếp và được pháp luật quy định đối với các tổ chức kinh tế xã hội cũng như mọi thành viên trong xã hội. Ngoài ra cũng có thể hiểu thuế là mọt khoản thu nhạp được chuyển giao mọt cách bắt buọc từ các thể nhan và pháp nhan cho Nhà nước, do pháp luạt quy định nhằm sử dụng cho mục đích co ng cọng.
Mọt trong những đạc trưng quan trọng của thuế là mang tính pháp lý cao. Mỗi khoản thuế phát sinh được xác định tren co sở thu nhạp của NNT và sẽ trở thành khoản nọp bắt buọc mà NNT có nghĩa vụ chuyển giao cho Nhà nước. Phân loại thuế Có nhiều phương thức phân loại thuế, theo tài liệu về thuế của Tổng Cục Thuế (200 có các phương thức phân loại sau: Căn cứ vào cơ sở tính thuế, thuế được chia thành: thuế thu nhập cá nhân, thuế 10 thu nhập doanh nghiệp.; thuế tài sản như thuế sử dụng tài sản nhà nước (thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên .), thuế chuyển nhượng tài sản (thuế chuyển giao quyền sử dụng đất, thuê mua, bán các tài sản như nhà, xe cộ. ; thuế tiêu dùng đánh vào hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên thị trường trong nước và xuất nhập kh u như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt.
Căn cứ phương thức tính thuế được chia thành hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu: Thuế gián thu là thuế mà người nộp thế gián tiếp nộp thuế cho người tiêu dùng, họ không phải là người chịu thuế. Đặc điểm cơ bản của thuế gián thu là được cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ để bán ra. Ở nước ta, thuế gián thu bao gồm: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất kh u, thuế nhập kh u. Thuế trực thu là thuế trực tiếp huy động một phần thu nhập của các đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế.
Đặc điểm cơ bản của thuế trực thu là đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế là một. Nó đánh trực tiếp vào người nộp thuế, tức là người có thu nhập chịu thuế làm giảm phần thu nhập của họ. Ở nước ta, thuế trực thu bao gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất nông nghiệp. Trong các loại thuế trực thu, thuế thu nhập cá nhân ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu đối với ngân sách nhà nước.
Tóm lại, trong thực tế có nhiều tiêu thức phân loại thuế, tuỳ theo yêu cầu quản lý thuế của mỗi quốc gia mà có sự lựa chọn cách phân loại thuế khác nhau. Tuy nhiên hiện nay tại nhiều nước phân loại thuế được chủ yếu được dựa vào hai tiêu thức trên. Vai trò của thuế Theo tài liệu về thuế của Tổng Cục Thuế (2008) đã đưa ra một số vai trò quan trọng của thuế đối với một quốc gia cụ thể: Thứ nhất, Thuế là công cụ chủ yếu tập trung nguồn thu cho NSNN. Để huy động nguồn lực vật chất cho mình, Nhà nước có thể sử dụng nhiều hình thức khác nhau như: phát hành thêm tiền, phát hành trái phiếu để vay trong nước và ngoài nước, bán một phần tài sản quốc gia, thu thuế.
Trong các hình thức nêu trên thì thuế là công cụ chủ 11 yếu và có vai trò quan trọng. Thứ hai, Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước, Vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế của công cụ thuế được biểu hiện rõ qua các nội dung nhà nước can thiệp vào nền kinh tế và phương pháp Nhà nước sử dụng công cụ thuế để đạt được các mục tiêu đã định. Thứ ba, thuế là công cụ điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối. Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có sự chênh lệch lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội.
Kinh tế thị trường càng phát triển thì khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày cảng có xu hướng gia tăng. Nếu không chia sẻ thành quả phát triển kinh tế cho mọi thành viên sẽ thiếu công bằng và tạo nên sự đối lập về quyền lợi và của cải giữa các tầng lớp dân cư. Chính vì vậy, nhà nước cần can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải của xã hội. Thuế chính là công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động trực tiếp vào quá trình này.
Thứ tư, thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vai trò này được xuất hiện chính do quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế trong thực tế. Để đảm bảo thực hiện tốt công tác thu thuế theo luật định, cơ quan thuế và cơ quan có liên quan cần phải nắm vững số lượng, quy mô các cơ sở sản xuất kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ được phép kinh doanh. Từ nghiệp vụ quản lý của mình cơ quan thuế sẽ phát hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để tìm các biện pháp tháo đỡ và giúp đỡ họ.
Như vậy qua công tác quản lý thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của cơ sở sản xuất kinh doanh, đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Tổng quan thuế TNCN 1. Khái quát thuế TNCN Bất kỳ một quốc gia nào nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường đều coi thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn 12 thu cho ngân sách và thực hiện công bằng xã hội. Đối với loại thuế đánh vào thu nhập thì hiện nay trên thế giới hầu hết sử dụng hai sắc thuế là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân.
Các sắc thuế này thường phức tạp, khó thu hơn thuế tiêu dùng nhưng nó được xem là sắc thuế bình đẳng bởi người có thu nhập cao nộp thuế nhiều, người có thu nhập thấp nộp ít. Có thể hiểu về thuế TNCN như sau: Thuế Thu nhập cá nhân có thể hiểu đơn giản là khoản tiền mà người có thu nhập phải trích nộp một phần tiền lương hoặc từ các nguồn thu nhập khác vào ngân sách nhà nước Tuy nhiên, cũng như các loại thuế khác, đặc biệt là thuế trực thu, thuế TNCN đòi hỏi phải có định nghĩa rõ ràng về cơ sở tính thuế. Hai nhà kinh tế học Haig và Simon (2002) định nghĩa về thuế TNCN: “là tổng giá trị của cải ròng tăng lên của một cá nhân cộng với sự tiêu dùng của người đó trong một thời gian nhất định, thường là một năm. Đo lường này mang tính toàn diện vì nó bao gồm cả thu nhập bằng tiền và thu nhập dưới hàng hoá, dịch vụ”.