Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hà Nội giữ vai trò là trung tâm đầu não chính trị, kinh tế và văn hóa của cả nước, đồng thời là cái nôi khoa học và công nghệ với bề dày lịch sử hơn 55 năm phát triển từ năm 1962 đến năm 2017. Thủ đô hiện là nơi tập trung hơn 70% tổng số cán bộ khoa học hàng đầu của Việt Nam cùng hệ thống viện nghiên cứu, trường đại học và các doanh nghiệp công nghệ lớn nhất cả nước. Mặc dù sở hữu tiềm lực to lớn, công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ tại Hà Nội vẫn đối mặt với nhiều rào cản phức tạp. Những hạn chế trong việc ban hành, tổ chức thực hiện chính sách, cơ chế tài chính chậm đổi mới và quy trình phê duyệt nhiệm vụ khoa học kéo dài trên 12 tháng đã làm giảm tính ứng dụng của các công trình nghiên cứu.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích toàn diện thực trạng quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 - 2017. Từ đó, đề tài xây dựng hệ thống giải pháp mang tính thực tiễn cao nhằm hoàn thiện bộ máy quản lý, nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều sâu. Về mặt giá trị thực tiễn, kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho việc định hướng quản lý nguồn ngân sách khoa học công nghệ duy trì ở mức tối thiểu 2% tổng chi ngân sách thành phố, đồng thời tạo tiền đề nâng cao hiệu quả hoạt động cho 42 doanh nghiệp khoa học công nghệ đã được chứng nhận tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý hành chính công và lý thuyết thể chế hiện đại làm nền tảng xem xét sự tác động có tổ chức của bộ máy nhà nước lên các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và đổi mới công nghệ. Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, hoạt động quản lý nhà nước bao gồm việc ra quyết định và tổ chức thực thi các quyết định về chiến lược, quy hoạch, cơ chế tài chính, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, an toàn bức xạ hạt nhân và sở hữu trí tuệ.

Nghiên cứu tích hợp mô hình cấu trúc công nghệ bốn thành phần gồm: phần cứng (công cụ, thiết bị, hạ tầng kỹ thuật), con người (kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo), thông tin (dữ liệu, quy trình, bí quyết kỹ thuật) và tổ chức quản lý (bố trí, điều phối và cơ chế vận hành). Bên cạnh đó, luận văn làm rõ các khái niệm then chốt như quản lý nhà nước về khoa học công nghệ, doanh nghiệp khoa học công nghệ, xã hội hóa nguồn lực nghiên cứu và cơ chế khoán kinh phí đến sản phẩm cuối cùng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết giai đoạn 2012 - 2017 của Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các số liệu thống kê liên quan.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu tiến hành khảo sát toàn diện 72 cơ quan hành chính trên địa bàn trong việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng TCVN ISO 9001 (thu nhận dữ liệu thực tế tại 71 cơ quan, đạt tỷ lệ 99%). Dữ liệu thanh tra, kiểm tra được tổng hợp từ mẫu gồm 405 cơ sở (235 cơ sở năm 2016 và 170 cơ sở năm 2017). Mẫu phân tích nhiệm vụ khoa học bao gồm toàn bộ 362 đề xuất nhiệm vụ năm 2016 và 325 đề xuất năm 2018.

Phương pháp phân tích được lựa chọn gồm phân tích định lượng kết hợp định tính, thống kê mô tả, tổng hợp và so sánh đối chuẩn (benchmarking) với các mô hình quản lý thành công tại Thành phố Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh. Việc lựa chọn các phương pháp này nhằm đảm bảo tính khách quan, phản ánh chính xác bức tranh thực tế về hiệu quả xử lý thủ tục hành chính, giải ngân ngân sách và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, trong công tác tuyển chọn và quản lý nhiệm vụ khoa học, năm 2016 Sở tiếp nhận 362 đề xuất, chọn lọc được 92 đề tài và 14 dự án triển khai trong kế hoạch 2017, đồng thời nghiệm thu cấp thành phố 48 đề tài. Đến năm 2017, thành phố phê duyệt 67 nhiệm vụ (65 nhiệm vụ tuyển chọn và 2 nhiệm vụ giao trực tiếp) theo Quyết định số 7137/QĐ-UBND, rút ngắn thời gian ký kết hợp đồng và cấp kinh phí sớm hơn 2 tháng so với năm 2016. Đối với kế hoạch năm 2018, trong tổng số 325 đề xuất, hội đồng đã phê duyệt danh mục 85 nhiệm vụ gồm 69 đề tài và 16 dự án sản xuất thử nghiệm.

Thứ hai, hoạt động phát triển doanh nghiệp khoa học công nghệ và thẩm định công nghệ ghi nhận bước tiến rõ nét. Năm 2017, thành phố thẩm định công nghệ cho 7 dự án đầu tư lớn và góp ý kiến chuyên môn cho 64 đề xuất dự án. Sở đã cấp mới giấy chứng nhận cho 41 tổ chức, cấp chứng nhận doanh nghiệp khoa học công nghệ cho 7 đơn vị, nâng tổng số doanh nghiệp khoa học công nghệ của thành phố lên 42 đơn vị trên tổng số 303 doanh nghiệp thuộc nhóm này trên toàn quốc (chiếm tỷ trọng 13,86%).

Thứ ba, công tác tiêu chuẩn đo lường, an toàn bức xạ và thanh tra chuyên ngành đạt nhiều kết quả tích cực. Năm 2017, đơn vị đã kiểm định và hiệu chuẩn 8.879 phương tiện đo, tiếp nhận kiểm tra chất lượng thép nhập khẩu cho 1.155 hồ sơ với 3.449 lô thép. Về an toàn bức xạ, thành phố cấp 176 giấy phép cơ sở X-quang y tế và 65 chứng chỉ nhân viên bức xạ. Công tác thanh tra năm 2017 kiểm tra 170 cơ sở, phát hiện và xử phạt 12 cơ sở vi phạm với số tiền 243 triệu đồng, giảm mạnh so với mức 62 cơ sở vi phạm và 467 triệu đồng tiền phạt của năm 2016 (giảm 80,6% số vụ vi phạm).

Thảo luận kết quả

Khi xem xét dữ liệu qua bảng phân bổ cơ cấu nhiệm vụ năm 2018, tỷ lệ đề tài nghiên cứu lý thuyết chiếm tới 81,18% (69/85 nhiệm vụ), trong khi các dự án sản xuất thử nghiệm chỉ chiếm 18,82% (16/85 nhiệm vụ). Tương quan này chỉ ra rằng hoạt động khoa học vẫn nặng về nghiên cứu hàn lâm, thiếu vắng các dự án có khả năng tạo ra sản phẩm thương mại hóa ngay trên thị trường.

Nguyên nhân của tình trạng trên bắt nguồn từ cơ chế tài chính chậm đổi mới, thời gian từ lúc đề xuất đến khi giải ngân kéo dài hơn 1 năm khiến nhiều nhà khoa học giảm động lực. So sánh với Thành phố Đà Nẵng, địa phương này đã thực hiện cơ chế khoán kinh phí đến sản phẩm cuối cùng từ năm 2014, loại bỏ việc kiểm soát hóa đơn vụn vặt và tập trung đánh giá chất lượng đầu ra. Trong khi đó, Thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động phân loại nguồn vốn thành 3 nhóm rõ rệt, sẵn sàng tài trợ từ 5 đến 10 tỷ đồng cho các dự án công nghệ lớn trong thời hạn 2 - 3 năm. Việc đối chiếu này chỉ ra bài học sâu sắc cho Hà Nội trong việc tái cấu trúc quỹ phát triển và cải cách thủ tục thanh quyết toán.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới triệt để cơ chế quản lý tài chính và phê duyệt đề tài. Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội và Sở Khoa học và Công nghệ cần áp dụng cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng tương tự mô hình của Đà Nẵng, phân cấp quyền tự chủ dự toán cho chủ nhiệm đề tài. Mục tiêu đặt ra là cắt giảm thời gian xét duyệt và giải ngân vốn từ hơn 12 tháng xuống dưới 6 tháng, hoàn thành triển khai trong giai đoạn 2018 - 2020.

Thứ hai, phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp khoa học công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Thành phố cần đẩy mạnh giải ngân dự án Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ quy mô đầu tư 700 tỷ đồng, nâng cao chất lượng phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc tế. Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với Quỹ Đầu tư phát triển Thành phố đưa ra gói tín dụng ưu đãi lãi suất nhằm hỗ trợ thành lập mới, phấn đấu nâng quy mô từ 42 doanh nghiệp lên 100 doanh nghiệp khoa học công nghệ vào năm 2025.

Thứ ba, chuẩn hóa bộ máy tổ chức và hiện đại hóa quy trình hành chính. Sở cần hoàn thành việc áp dụng hệ thống ISO điện tử tại 100% các phòng ban chuyên môn và đơn vị sự nghiệp trực thuộc. Đồng thời, tổ chức bồi dưỡng chuẩn hóa ngạch chuyên viên chính và chuyên viên cao cấp cho ít nhất 30 lượt cán bộ quản lý mỗi năm, gắn khung năng lực vị trí việc làm với kết quả đánh giá thực thi công vụ.

Thứ tư, đẩy mạnh xã hội hóa và mở rộng hợp tác quốc tế. Định kỳ tổ chức tối thiểu 2 sự kiện kết nối cung cầu công nghệ (Techmart) mỗi năm với sự tham gia của các tập đoàn FDI từ Nhật Bản, Đức, Hoa Kỳ. Bắt buộc các đề tài ứng dụng phải có biên bản thỏa thuận tiếp nhận chuyển giao của doanh nghiệp ngay từ khâu đăng ký tuyển chọn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý tại các cơ quan hành chính nhà nước như Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhằm học hỏi kinh nghiệm kiện toàn bộ máy và đơn giản hóa thủ tục hành chính.

Thứ hai, các nhà khoa học, viện trưởng các viện nghiên cứu và ban giám hiệu các trường đại học sử dụng luận văn như một cẩm nang nhận diện các điểm nghẽn thủ tục để nâng cao tỷ lệ xét duyệt hồ sơ nhiệm vụ khoa học cấp tỉnh và thành phố.

Thứ ba, cộng đồng doanh nghiệp khoa học công nghệ và các đơn vị khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cần tìm hiểu về quy trình cấp chứng nhận doanh nghiệp khoa học công nghệ, các chính sách ưu đãi tài chính và cách thức tham gia vào các chuỗi cung ứng công nghệ cao.

Thứ tư, các học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công và Luật kinh tế tham khảo khung phân tích thực chứng, phương pháp luận và nguồn số liệu chuẩn xác phục vụ các công trình nghiên cứu học thuật liên quan.

Câu hỏi thường gặp

Thế mạnh nổi bật nhất về nguồn lực khoa học công nghệ của Thủ đô Hà Nội là gì? Hà Nội là cái nôi khoa học của cả nước với hơn 55 năm xây dựng và phát triển, tập trung trên 70% tổng số cán bộ khoa học trình độ cao của Việt Nam. Đây cũng là nơi đóng trụ sở của các viện hàn lâm, trường đại học trọng điểm và 42 doanh nghiệp khoa học công nghệ tiêu biểu.

Hà Nội có thể áp dụng kinh nghiệm quản lý tài chính của Thành phố Đà Nẵng như thế nào? Thành phố cần triển khai cơ chế khoán kinh phí đến sản phẩm cuối cùng như Đà Nẵng đã làm từ năm 2014. Sở Khoa học và Công nghệ chỉ kiểm tra đánh giá nghiệm thu sản phẩm đầu ra qua hội đồng chuyên ngành thay vì kiểm soát chi tiết từng hóa đơn, chứng từ chi tiêu nhỏ lẻ.

Những rào cản lớn nhất khiến các nhà khoa học gặp khó khăn khi đăng ký đề tài tại Hà Nội là gì? Rào cản lớn nhất là thời gian phê duyệt và cấp phát kinh phí kéo dài trên 1 năm kể từ thời điểm nộp đề xuất. Bên cạnh đó, các thủ tục hành chính phức tạp và yêu cầu thanh quyết toán tài chính rườm rà tạo áp lực lớn cho các nhóm nghiên cứu.

Kết quả thanh tra chuyên ngành khoa học công nghệ Hà Nội giai đoạn 2016 - 2017 thể hiện điều gì? Năm 2016 tiến hành thanh tra 235 cơ sở, xử phạt 62 cơ sở với 467 triệu đồng. Năm 2017 thanh tra 170 cơ sở, xử phạt 12 cơ sở với 243 triệu đồng. Tỷ lệ vi phạm giảm hơn 80% cho thấy ý thức chấp hành pháp luật về đo lường và an toàn bức xạ đã chuyển biến rõ rệt.

Tại sao Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định sáp nhập Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ vào Quỹ Đầu tư phát triển Thành phố? Việc sáp nhập nhằm thu gọn đầu mối quản lý, khắc phục tình trạng lúng túng trong giải ngân vốn và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, tổ chức khoa học tiếp cận các khoản vay ưu đãi với quy mô vốn lớn và chuyên nghiệp hơn.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực khoa học công nghệ trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
  • Bức tranh thực trạng tại Hà Nội giai đoạn 2012 - 2017 được phản ánh chi tiết với các dữ liệu thực chứng về tuyển chọn 85 nhiệm vụ năm 2018, quản lý 42 doanh nghiệp khoa học công nghệ và thẩm định 71/72 cơ quan ISO.
  • Đề tài chỉ rõ nguyên nhân cốt lõi của các hạn chế xuất phát từ cơ chế tài chính chậm cải cách và sự phối hợp liên ngành chưa đồng bộ giữa các cơ quan quản lý.
  • Hệ thống giải pháp đột phá được đề xuất tập trung vào cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, vận hành Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ 700 tỷ đồng và số hóa quy trình quản lý bằng ISO điện tử.
  • Định hướng tiếp theo giai đoạn 2018 - 2025 cần nhanh chóng hoàn thiện cơ chế đặt hàng nghiên cứu gắn liền với doanh nghiệp thực tiễn và mở rộng hợp tác chuyển giao công nghệ quốc tế.

Các nhà quản lý, cơ quan nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm có thể tiếp tục khai thác các phát hiện thực chứng và mô hình giải pháp trong tài liệu để ứng dụng vào công tác điều hành thực tế tại đơn vị.