CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ KARAOKE 1.1 Khái quát chung về Karaoke 1.1 Quá trình ra đời và phát triển của Karaoke Karaoke (カラオケ ) là một hình thức giải trí bằng cách đệm nhạc theo lời bài hát trên màn hình. Từ karaoke có gốc từ chữ: KARA (空 nghĩa là không - cũng như trong môn võ karate - môn võ tay không) và OKE (オーケストラ viết tắt của chữ Okesutora nghĩa là "dàn nhạc", có gốc từ tiếng Anh orchestra) trong tiếng Nhật. Video Karaoke cấu tạo bởi hai phần: phần nhạc nền được ghi âm trước được phối đồng bộ với phần chữ (lời bài hát); Phần xướng âm dành cho người biểu di n, cầm microphone hát theo những dòng chữ lời bài hát hiện trên màn hình trên nền nhạc giai điệu của bài hát. Karaoke do ông Inoue Daisuke người Nhật phát minh vào năm 19 1, khi ông 31 tuổi, là một người chơi keyboard trong một câu lạc bộ; đến năm 2004, Inoue được trao giải Ig Nobel về hòa bình do phát minh này.
Nguồn gốc của karaoke ở Nhật Bản không thể tách rời khỏi các quán bar chơi piano và guitar truyền thống vốn là địa điểm giải trí chủ yếu của các doanh nhân Nhật từ nhiều năm về trước. Karaoke lần đầu tiên được biết đến tại một quầy bar ở thành phố Kobe của Nhật Bản, là hình thức giải trí chủ yếu cho người kinh doanh. Sau một thời gian, karaoke phát triển ở nhiều quán bar trên toàn quốc, nhờ sự phát triển công nghệ, và kinh doanh, họ đã phát triển thành “hộp karaoke”; Từ hình thức băng đệm một bài hát nổi tiếng, karaoke đã được phát triển thành các đĩa nhỏ gọn, có thể xác định vị trí bắt đầu của một bài hát ngay lập tức, tăng cường các hình ảnh trong video để tạo ra một bầu không khí thích hợp cho mỗi bài hát và được hiển thị trên một màn hình tivi cùng với các từ - lời bài hát. Sau đó, Karaoke dần đổi mới công nghệ hiện đại như đĩa video, đĩa laser, và đồ họa CD; Karaoke đã phát triển thành một ngành công nghiệp giải trí lớn tại Nhật Bản.
Các gia đình sử dụng karaoke cũng đã trở nên phổ biến. 6 Tuy nhiên, vì hầu hết các ngôi nhà Nhật Bản được xây dựng sát nhau, chất liệu bằng gỗ, cách âm kém, hoạt động karaoke gây ồn ào, khó chịu cho những người hàng xóm vào ban đêm. Do vậy, các doanh nghiệp tạo ra các “hộp karaoke”, lắp đặt bên trong một cơ sở, có cửa đóng, cách âm. Hộp karaoke đầu tiên xuất hiện vào năm 1984 tại một cánh đồng lúa ở vùng nông thôn của tỉnh Okayama, phía Tây của khu vực Kansai (nay là Kinki), Nhật Bản.
Nó được xây dựng cải tiến từ một chiếc xe vận tải hàng hóa. Kể từ đó, các hộp karaoke được dựng khắp đất nước Nhật Bản; trong khu vực đô thị, phòng karaoke được xây dựng chia thành nhiều khoang, cách âm trong một tòa nhà riêng biệt. Karaoke trở thành dịch vụ giải trí phổ biến rộng rãi trong tất cả các tầng lớp xã hội [1].2 Vai trò của Karaoke Về góc độ kinh tế: hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke mang lại việc làm và thu nhập cho hàng chục ngàn lao động mà chủ yếu là lao động phổ thông; kinh doanh dịch vụ karaoke đóng góp những khoản nhất định vào nguồn thu thuế hàng năm của Chính phủ, góp phần phân phối thu nhập trong xã hội, thúc đẩy mạnh mẽ tới ngành du lịch. Về góc độ văn hóa: Xu hướng phát triển nhanh của xã hội hiện đại làm cho con người càng phải chịu ngày càng nhiều áp lực trong công việc, Karaoke là hoạt động văn hóa lành mạnh, giúp con người thư giãn, giải tỏa những căng thẳng, tăng chất lượng cuộc sống, tái tạo sức lao động và sáng tạo.2 QLNN trong hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke 1.1 Khái niệm về QLNN đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke Quản lý là một phạm trù đã xuất hiện từ trước khi có Nhà nước.
Quản lý ở khía cạnh quản lý xã hội là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt được mục đích, ý chí của người quản lý và phù hợp với quy luật khách quan. Quản lý là một dạng hoạt động có mục đích của chủ thể quản lý tác động lên đối tượng nhằm thực hiện mục tiêu nhất định thông qua cac nguyên tắc, các hình thức, các phương pháp quản lý phù hợp. Quản lý bao giờ cũng mang tính mục đích, tính tổ chức và tính hiệu quả. Quản lý ở tầm vĩ mô chính là QLNN.
Như vậy, QLNN là hoạt động có mục tiêu rõ ràng, có chiến lược và có kế 7 hoạch để thực hiện mục tiêu. Đặc điểm này đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược và kế hoạch hoạt động của mình nhằm đạt các mục tiêu đã xác định trên cơ sở chiến lược, kế hoạch của cấp trên và đường lối, chính sách của Đảng. QLNN là hoạt động dựa trên những quy định chặt chẽ của pháp luật, đồng thời là hoạt động có tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong thực ti n diều hành, quản lý. Trên cơ sở những quy định của pháp luật và mục tiêu, định hướng, kế hoạch của cấp trên và đường lối, chính sách của Đảng.
QLNN được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước và sự tham gia của nhân dân hoặc tổ chức xã hội được nhà nước giao quyền thực hiện chức năng nhà nước. QLNN được hiểu là sự quản lý có tính chất nhà nước, do nhà nước thực hiện thông qua bộ máy nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước. QLNN khác với dạng quản lý của các chủ thể khác. Các dạng quản lý của các chủ thể khác như Công đoàn, Đoàn thanh niên… chỉ dùng phương thức giáo dục vận động quần chúng chứ không dùng quyền lực pháp luật của nhà nước để điều chỉnh các quan hệ quản lý.
Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ở Việt Nam, quyền lập pháp thuộc cơ quan Quốc hội, quyền hành pháp thuộc cơ quan Chính phủ, quyền tư pháp thuộc hệ thống cơ quan Tòa án. QLNN được thể hiện ở quyền hành pháp, bộ máy hành pháp chứ không phải của toàn bộ máy nhà nước. Quyền hành pháp là quyền thi hành pháp luật, thuộc cơ quan Chính phủ, bao gồm hai quyền là quyền lập quy và quyền hành chính.
Quyền lập quy là quyền ban hành các văn bản pháp quy (các văn bản dưới luật) nhằm cụ thể hóa luật và hướng dẫn thực hiện luật. Các văn bản pháp quy có giá trị pháp lý nhằm điều chỉnh những mối quan hệ kinh tế xã hội thuộc phạm vi quyền hành pháp. Quyền hành chính là quyền tổ chức bộ máy quản lý các công việc hằng ngày, điều hành các hoạt động kinh tế xã hội, đưa pháp luật vào cuộc sống, nhằm giữ trật tự an ninh xã hội, phục vụ lợi ích cộng đồng và công dân, sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính và tài sản công để phát triển đất nước có hiệu quả. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2013) quy định rõ: Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ 8 nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp tối cao của Nhà nước, thực hiện chức năng QLNN trên mọi lĩnh vực.
QLNN là sự kết hợp đồng bộ giữa ngành, lãnh thổ trong phạm vi cả nước. Các bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan của Chính phủ, có chức năng QLNN đối với một số ngành, lĩnh vực nhất định theo quy định của pháp luật và sự phân công của Chính phủ, trong phạm vi cả nước. Các tỉnh, thành phố thuộc Trung ương có chức năng QLNN đối với mọi lĩnh vực hoạt động trên phạm vi địa bàn của mình quản lý theo sự chỉ đạo của các cơ quan Trung ương. Vì vậy, hành chính nhà nước với nghĩa QLNN chỉ bao gồm hoạt động của bộ máy hành pháp chứ không phải toàn bộ bộ máy nhà nước.
QLNN là quá trình tác động liên tục, có tổ chức, định hướng của chủ thể quản lý trên cơ sở pháp luật, được thực hiện thông qua bộ máy hành chính nhà nước. Đó là sự tác động, điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước trong quá trình vận hành xã hội và hành vi của công dân nhằm duy trì trật tự an ninh và phát triển kinh tế xã hội theo mục đích đề ra. Điều này đòi hỏi chủ thể quản lý phải lựa chọn cách thức, công cụ quản lý phù hợp. Có thể nói, chủ thể quản lý là thành tố rất quan trọng trong QLNN.
QLNN có những đặc điểm là: mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao, có mục tiêu chiến lược, chương trình và kế hoạch thực hiện mục tiêu; có tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong điều hành, phối hợp và phát huy mọi lực lượng; có tính liên tục và thống nhất. Để có được điều đó, bộ máy nhà nước phải ổn định, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, hệ thống pháp luật phải đồng bộ và hoàn thiện, phù hợp với yêu cầu thực ti n khách quan. Như vậy, QLNN là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống luật pháp và bộ máy của mình, nhằm điều chỉnh các hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội, mọi hành vi của công dân với mục đích duy trì và phát triển xã hội, bảo toàn và củng cố quyền lực của nhà nước. Trên cơ sở khái niệm về “QLNN” ta có thể hiểu: Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống luật pháp và bộ máy của mình, nhằm điều chỉnh các hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke nhằm: Định hướng, tạo điều kiện, tổ chức điều hành, giám sát, kiểm tra, làm cho karaoke phát triển 9 theo hướng hài hòa và nhịp nhàng, thỏa mãn nhu cầu văn hóa tinh thần cho công chúng, giúp xã hội không ngừng phát triển.
Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke mang tính quyền lực Nhà nước, tính tổ chức chặt chẽ thông qua các cơ quan luật pháp, hiến pháp, tư pháp và bộ máy hành chính.