mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, bảng biểu, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật: Trong chƣơng này, tác giả đã khái quát chung về cơ sở lý luận về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật, và vai trò quản lý nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật, tiêu chuẩn, tiêu chí, nguyên tắc, phƣơng pháp đánh giá nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật cũng nhƣ những yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng nguồn nhân lực, chính sách và chất lƣợng nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật trong giai đoạn hiện nay. Chƣơng 2: Thực trạng nguồn nhân lực tại Trung tâm Tổ chức biểu diễn và Điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh: Trong chƣơng này, tác giả đã giới thiệu đôi nét về Trung tâm tổ chức biểu diễn và Điện ảnh thành phố, qua đó phân tích thực trạng đội ngũ nguồn nhân lực của Trung tâm cả về trình độ, độ tuổi, chuyên môn, nghiệp vụ, đào tạo, tuyển dụng, và các chính sách và chế độ của một cán bộ văn hóa nghệ thuật hiện nay. Qua đó, tác giả cũng đánh giá diểm mạnh ddierm yêu đối với nguồn nhân lực 11 văn hóa nghệ thuật hiện có của Trung tâm, từ đó rút ra những kiến nghị và giải pháp cho chƣơng tiếp theo. Chƣơng 3: Định hƣớng và một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Trung tâm Tổ chức biểu diễn và Điện ảnh thành phố HCM đến năm 2020: Chƣơng này, tác giả đã mạnh dạn đƣa ra một số quan điểm, mục tiêu, và định hƣớng nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực.
Đồng thời, đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, hoàn thiện chất lƣợng nguồn nhân lực, và đƣa ra những tiêu chí để xét tuyển dụng nhân viên, đào tạo và những chính sách đãi ngộ phù hợp với năng lực và trình độ của cán bộ công nhân viên. Qua đó, tác giả cũng đƣa ra một số kiến nghị đối với cơ quan chủ quản cũng nhƣ Ban lãnh đạo của Trung tâm với mong muốn cải thiện chất lƣợng cuộc sống của cán bộ công nhân viên tại Trung tâm tổ chức biểu diễn và Điện ảnh thành phố trong thời gian tới. 12 CHƢƠNG 1 CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VĂN HÓA NGHỆ THUẬT 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VĂN HÓA NGHỆ THUẬT 1.
NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NGUỒN NHÂN LỰC VĂN HÓA NGHỆ THUẬT 1. Nguồn nhân lực Cho đến nay khái niệm nguồn nhân lực đã đƣợc nhìn nhận, diễn đạt dƣới nhiều góc độ khác nhau: Từ góc độ khoa học quản lý thì nguồn nhân lực đƣợc hiểu là tài nguyên nhân sự và các vấn đề nhân sự trong một tổ chức cụ thể, nghĩa là toàn bộ đội ngũ cán bộ, công nhân viên của tổ chức với tƣ cách vừa là khách thể vừa là trung tâm của các nhà quản trị, vừa là chủ thể hoạt động vùa và là động lực phát triển của các doanh nghiệp nói chung, các tổ chức văn hóa nghệ thuật nói riêng. Dƣới góc độ kinh tế học thì “N u một bộ ậ d tr ộ tuổ quy ị k ả ă t m ộ ” [16, tr. Hoặc góc độ kinh tế, các nhà nghiên cứu cho rằng: Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con ngƣời (trƣớc hết là tiềm năng lao động), của một quốc gia (vùng lãnh thổ) có trong một thời k nhất định.
Từ góc độ dân số học thì: nguồn nhân lực đƣợc hiểu là dân số trong độ tuổi lao động, trong đó nhấn mạnh dân số có khả năng lao động đang có việc làm, tức là đang hoạt động kinh tế và đang không có việc làm Ở một góc độ khác, “N u u ủ một tổ (vớ quy m ì ă k á u) k ả ă v t ềm ă t m v quá trì sả xuất ủ tổ ù vớ s át tr ể KT - XH ủ một quố k uv t ể ớ ” [15, tr. 13 Nguồn nhân lực hay còn gọi là nguồn lực con ngƣời, vốn ngƣời. Hiện nay có nhiều quan niệm về khái niệm nguồn nhân lực. Theo thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Bộ Lao động thƣơng binh và xã hội: Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời k xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể đƣợc xác định trên một địa phƣơng, một ngành hay một vùng.
Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội. 13] Nguồn nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực con ngƣời, là nguồn lực quan trọng nhất trong mỗi doanh nghiệp/đơn vị/tổ chức. Nó không chỉ đơn thuần là lực lƣợng lao động, mà là lực lƣợng lao động với tất cả tiềm năng của nó, là một tập hợp mở có khả năng phát triển tùy theo các chính sách của tổ chức và ý thức của cá nhân ngƣời lao động. Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con ngƣời (trƣớc hết và cơ bản nhất là tiềm năng về lao động), gồm cả phẩm chất, trình độ chuyên môn, kiến thức, óc sáng tạo, năng lƣợng, nhiệt huyết và kinh nghiệm sống của con ngƣời nhằm đáp ứng cơ cấu kinh tế- xã hội.
Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất của lực lƣợng sản xuất, có tính chất quyết định sự phát triển toàn diện của một quốc gia. Thuật ngữ nguồn nhân lực (Human Resourses) xuất hiện vào những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nƣớc Phƣơng Tây, khi có sự thay đổi căn bản về phƣơng thức quản lý, sử dụng con ngƣời trong kinh tế lao động. Ở nƣớc ta, khái niệm này cũng đã đƣợc sử dụng khá rộng rãi từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến này. Do tiếp cận từ các góc độ khác nhau mà chúng ta có nhiều cách hiểu về nguồn nhân lực.
Dù ở góc độ nào đi nữa, theo các phƣơng pháp tiếp cận khác nhau giữa các định nghĩa về nguồn nhân lực vẫn còn những điểm chung để từ đó ta có thể xác định đƣợc nguồn nhân lực chính là: Nguồn nhân lực hay tài nguyên nhân lực. ở cấp độ vĩ mô đều là nguồn lực con ngƣời. Theo Bộ VHTT& DL trong Quy hoạch Phát triển nhóm ngành văn hóa, thể thao giai đoạn 2011-2020: Nhân lực là nguồn lực con ngƣời, với tƣ cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, đang tham gia lao động, sáng tạo ra của cải vật 14 chất và tinh thần cho xã hội, đƣợc biểu hiện ra là số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm thất định [6, tr. Tóm lại, hiểu một cách tổng thể nguồn nhân lực là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lƣợng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử đƣợc vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tƣơng lai của đất nƣớc.
Là nguồn lực con ngƣời, nguồn nhân lực đƣợc hiểu là tiềm năng lao động của một nƣớc, một địa phƣơng, một tổ chức… bao hàm toàn bộ khả năng về thể lực, trí lực, và nhân cách đáp ứng yêu cầu của xã hội nói chung, của địa phƣơng, của tổ chức… nói riêng. Có nhiều ý kiến khác nhau về quản lý nguồn nhân lực và quản trị nguồn nhân lực, cụ thể có các nhóm ý kiến: T ất quản lý nguồn nhân lực đƣợc sử dụng thay thế quản lý nhân lực nhằm chỉ rõ cách thức quản lý con ngƣời không chỉ là sự quản lý theo cách hành chính (là hoạt động áp dụng các nguyên tắc về trả lƣơng, nghỉ phép, nghỉ lễ, thăng tiến, bổ nhiệm… T giữa quản lý nguồn nhân lực và quản lý nhân sự có sự khác biệt hoàn toàn. Điều đó thể hiện ở quan điểm mới, triết lý mới, phƣơng pháp mới cho cách tiếp cận quản lý nguồn nhân lực có tính độc lập tƣơng đối song phƣơng pháp và chiến lƣợc quản lý con ngƣời phải phù hợp với chiến lực chung của tổ chức. T b quản lý nguồn nhân lực là giai đoạn tiếp theo của quản lý nhân sự trong tổ chức.
Các nhóm ý kiến đều nhấn mạnh vai trò con ngƣời và sự cần thiết phải áp dụng các quan điểm, phƣơng pháp mới trong quản lý con ngƣời (18, tr.119-120) Quản lý nguồn nhân lực Tƣơng tự nhƣ khái niệm nguồn nhân lực, khái niệm quản lý nguồn nhân lực cũng đƣợc nhìn nhận ở nhiều khía cạnh khác nhau: Theo Werther và Davis (1996), thì quản lý nguồn nhân lực là tìm mọi cách tạo điều kiện thuận lợi cho mọi ngƣời trong tổ chức hoàn thành tốt các mục tiêu chiến 15 lƣợc và các kế hoạch của tổ chức, tăng cƣờng cống hiến cho mọi ngƣời theo hƣớng phù hợp với chiến lƣợc của tổ chức. Quản lý nguồn nhân lực bao gồm tất cả các quyết định và hoạt động quản lý có ảnh hƣởng tới bản chất mối quan hệ giữa các tổ chức và các cá nhân. Mục tiêu hàng đầu của quản lý nguồn nhân lực là giúp tổ chức đạt đƣợc nhƣng số lƣợng phù hợp vào đúng vị trí và đúng thời điểm nhằm hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Quản lý nguồn nhân lực là quản lý xã hội, một trong những loại hình quản lý.
Nó đƣợc thực hiện theo một quá trình bao gồm các hoạt động: tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, phát triển và duy trì con ngƣời của tổ chức. Do đó, quản lý nguồn nhân lực cũng chính là cách thức tác động của chủ thể quản lý (cơ quan, tổ chức, ngƣời lãnh đạo…) lên đối tƣợng quản lý (nguồn nhân lực) sao cho đối tƣợng đƣợc quản lý (tức là nguồn nhân lực) thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đặt ra của chủ thể quản lý. Trong các tổ chức văn hóa – nghệ thuật thì quản lý nguồn nhân lực đƣợc hiểu là sự tổ chức sử dụng và điều hành mọi thành viên trong tổ chức một cách có hiệu quả nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức trên cơ sở tạo mọi điều kiện thuận lợi cũng nhƣ đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao cho việc phát huy năng lực sáng tạo của họ. Từ những khái niệm trên có thể thấy quản lý nguồn nhân lực vừa là nghệ thuật vừa là khoa học làm cho những mong muốn của tổ chức và mong muốn của nhân viên tƣơng hợp với nhau để cùng đạt đƣợc mục tiêu, và thúc đẩy tổ chức phát triển.