CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở CƠ SỞ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong những năm học gần đây ngày càng được phát triển và mở rộng, nội dung ngày càng phong phú, hình thức da dạng và được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Giang Thị Khuyên [16] với nghiên cứu “Thực trạng quản lý HĐGDNGLL ở trường Tiểu học miền núi huyện Mai Châu - Sơn La”, đã chỉ ra một số biện pháp tổ chức HĐGDNGLL cho học sinh Tiểu học có hiệu quả như, Bồi dưỡng nhận thức, kỹ năng hướng dẫn tổ chức quản lý HĐGDNGLL cho đội ngũ cán bộ, giáo viên; tăng cường công tác thi đua khen thưởng, chăm lo xây dựng, quản lý cơ sở vật chất; kiểm tra đôn đốc việc thực hiện, phối hợp các lực lượng tham gia tổ chức. Tác giả Nguyễn dục Quang năm 1999, với bài viết “Đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THPT”, đăng tại tạp chí NCGD đã tập trung nghiên cứu các mặt của HĐGDNGLL với việc xác định mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của nó đối với việc hình thành phát triển các phẩm chất nhân cách, đạo đức, củng cố, nâng cao kiến thức văn hóa cho học sinh.
Tác giả cũng đã đưa ra các hình thức, nội dung HĐGDNGLL phương thức tổ chức linh hoạt mềm dẻo sát với thực tiễn các trường phổ thông [21]. Đinh Xuân Huy năm 2009, luận văn thạc sĩ KHGD - Trường ĐHSP Hà nội với đề tài “Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của người Hiệu trưởng trong trường DTNT ở tỉnh Lai Châu” đã có những về nghiên cứu các biện pháp quản lý HĐGDNGLL của người hiệu trưởng ở trường phổ thông dân tộc nội trú- tỉnh Lai Châu đã khẳng định vai trò quan 13 trọng của tổ chức các HĐGDNGLLvới việc nâng cao chất lương giáo dục của trường phổ thông dân tộc nội trú. Tác giả đã xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động này của người Hiệu trưởng trong trường phổ thông dân tộc nội trú như: Bồi dưỡng nhận thức, năng lực cho đội ngũ giáo viên; cải tiến công tác quản lý; hướng dẫn; phối hợp các lực lượng tham gia vào HĐGDNGLL ở trường THPT dân tộc nội trú [11]. Phạm Hoàng Gia năm 1987, với bài viết “hoạt động ngoài giờ lên lớp học sinh lớp 6”, đăng tại tạp chí nghiên cứu giáo dục 4 - 1984 và Tạp chí NCGD đã dùng phiếu mẫu điều tra, nêu 30 loại cộng việc, gồm 57 dạng hoạt động cụ thể, phân thành các nhóm: Hoạt động học tập, hoạt động vui chơi- giải trí, hoạt động xã hội, hoạt động năng khiếu cá nhân [9].
Nguyễn Văn Thiềm năm 2000, với bài viết “Mấy biện pháp giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp theo địa bàn dân cư” đăng tại tạp chí NCGD cho rằng chất lượng giáo dục học sinh ở nhà trường giảm sút một phần là do việc giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp bị buông lỏng; sự phối hợp giữa các lực lượng bị coi nhẹ cho nên phải có sự phối hợp hoạt động nhà trường với địa bàn dân cư [27]. Vấn đề quản lý HĐGDNGLL cũng đã được đề cập tới trong một số luận văn thạc sĩ nhưng chủ yếu về hoạt động quản lý của cơ sở giáo dục đối với trường trung học cơ sở, bậc tiểu học và trường trung học phổ thông với các em học sinh đa số là người dân tộc kinh. Tác giả luận văn nghiên cứu về quản lý HĐGDNGLL của cơ sở giáo dục với đối tượng quản lý khác là học sinh dân tộc nội trú bậc trung học phổ thông ở Trường Hữu nghị 80. Với ý nghĩa đó tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của học sinh dân tộc nội trú ở trường Hữu Nghị 80”.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm quản lý 14 Khái niệm quản lý đã được các nhà khoa học định nghĩa một cách khác nhau: Tác giả Hà Sĩ Hồ năm 1985, với tác phẩm “những bài giảng về quản lý trường học tập II và tập III” NXBGD cho rằng “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về thực trạng của đối tượng và môi trường, nhằm cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [13]. Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ năm 1998, trong tác phẩm “Giáo dục học” - tập II, NXBGD cũng cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục đích, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [12].
Tác giả Nguyễn Văn Lê năm 1985, trong tác phẩm “ Khoa học quản lý nhà trường”, NXB TP.Hồ Chí Minh lại cho rằng: “Quản lý không chỉ mang tính khoa học, mà còn mang tính nghệ thuật”. Cũng như các tác giả khác ông cho rằng mục đích của công việc quản lý chính là nhằm đạt hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra. Ông viết: “Quản lý một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào con người nhằm đạt hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra” [19]. Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” tác giả Harold Kontz [17] viết: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. Như vậy, khái niệm quản lý được các nhà nghiên cứu và phân tích bằng nhiều cách khác nhau nhưng về cơ bản có những điểm chung như: 15 - Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả của những người cộng sự khác nhau trong cùng một tổ chức. - Quản lý là những tác động có mục đích lên một tập thể người, thành tố cơ bản của hệ thống xã hội. - Quản lý là các hoạt động thực tiễn nhằm đảm bảo hoàn thành các công việc qua những nỗ lực của người khác.
Tóm lại: Quản lý là có sự tác động có định hướng, có tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí của nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan. Ngày nay, trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự biến động không ngừng của nền kinh tế - xã hội, quản lý được xem là một trong năm nhân tố phát triển kinh tế - xã hội (vốn- nguồn lực lao động- Khoa học kỹ thuật- tài nguyên và quản lý) trong đó quản lý đóng vai trò quyết định của sự thành bại của công việc. Hoạt động quản lý tồn tại với 3 yếu tố cơ bản đó là “Chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu quản lý". Chức năng quản lý 1.
Quản lý giáo dục Theo nhà tác giả Phạm Minh Hạc năm 1986, với tác phẩm “Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục”, NXB – KHGD cho rằng “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và với từng học sinh”[15]. Vậy, quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong lĩnh vực giáo dục, nói một cách rõ ràng đầy đủ hơn, quản lý là hệ thống những tác động có mục đính, có kế hoạch hợp quy luật 16 của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển của xã hội. Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc trong “Quản lý giáo dục-Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”: “Quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra.
Từ 2 chức năng tổng quát có 4 chức năng cụ thể của giáo dục là: “kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá”. Tất cả các chức năng quản lí tạo nên nội dung của quá trình quản lý. Trong một chu trình quản lý, các chức năng kế tiếp nhau và độc lập với nhau chỉ mang tính tương đối bởi vì một số chức năng có thể diễn ra đồng thời hoặc kết hợp với việc thực hiện các chức năng khác. Vậy, ngoài 4 chức năng nêu trên trong một chu trình quản lý, chủ thể quản lý phải sử dụng thông tin như là một công cụ hay chức năng đặc biệt để thực hiện các chức năng đó.
Quản lý nhà trường Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là sự cụ thể hoá công tác quản lý giáo dục.Nhà trường là tế bào chủ chốt của bất cứ hệ thống giáo dục nào từ Trung ương tới địa phương. Quản lý nhà trường thực chất là quản lý giáo dục ở cơ sở. Bởi vậy, nhà trường là khách thể của tất cả các cấp quản lý theo khái niệm quản lý đa cấp. Mỗi nhà trường đều có hiệu trưởng và hội đồng giáo viên là chủ thể quản lý trực tiếp vận hành hệ thống giáo dục đi đến mục tiêu đào tạo.
Quản lý nhà trường ở Việt nam là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm, đưa nhà trường vận hành theo 17 nguyên lý giáo dục để tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ, từng học sinh” 1. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở cơ sở giáo dục phổ thông 1.