CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1.1 Một số khái niệm 1.1 Hệ thống công trình thủy lợi Theo Điều 2 của Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thủy lợi [2], hệ thống công trình thủy lợi bao gồm các công trình thủy lợi (CTTL) có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định. Dựa vào quy mô mà hệ thống công trình thủy lợi được phân loại thành các cấp độ khác nhau thuộc pham vi một tỉnh, huyện, xã hoặc hệ thống liên tỉnh, liên huyện, liên xã. Hệ thống công trình thuỷ lợi liên tỉnh là hệ thống CTTL có liên quan hoặc phục vụ tưới, tiêu, cấp nước cho tổ chức, cá nhân hưởng lợi thuộc 2 tỉnh hoặc đơn vị hành chính tương đương trở lên. Hệ thống công trình thuỷ lợi liên huyện là hệ thống CTTL có liên quan hoặc phục vụ tưới, tiêu, cấp nước cho tổ chức, cá nhân hưởng lợi thuộc 2 huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương trở lên.
Hệ thống công trình thuỷ lợi liên xã là hệ thống CTTL có liên quan hoặc phục vụ tưới, tiêu, cấp nước cho tổ chức, cá nhân hưởng lợi thuộc 2 xã hoặc đơn vị hành chính tương đương trở lên.2 Quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi Quản lý khai thác các CTTL là một quá trình vận hành, sử dụng và quản lý các công trình thuỷ lợi nhằm đảm bảo cung cấp và tiêu thoát nước đúng kế hoạch tưới tiêu, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho khu vực tưới tiêu và xã hội. Sản phẩm, dịch vụ thủy lợi là sản phẩm, dịch vụ do khai thác, lợi dụng công trình thủy lợi tạo ra. Khai thác tổng hợp công trình thủy lợi là việc khai thác, sử dụng tiềm năng của công trình thủy lợi để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. 6 Giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi là khoản tiền phải trả cho một đơn vị sản phẩm, dịch vụ thủy lợi.
Hiệu quả quản lý khai thác các CTTL là khả năng tạo ra kết quả mong muốn về quản lý khai thác các công trình thủy lợi đảm bảo hiêu quả cung cấp và tiêu thoát nước.3 Vai trò và đặc điểm của công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi Khai thác công trình thuỷ lợi là hoạt động mang tính công ích, vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội. Khi các đơn vị sản xuất sử dụng công trình thủy lợi phục vụ sản xuất kinh doanh (ví dụ: khai thác du lịch, cấp nước công nghiệp.) thì hoạt động đó đơn thuần mang tính kinh tế và đòi hỏi đơn vị quản lý công trình thuỷ lợi phải hạch toán, lấy mục tiêu hiệu quả kinh tế để quyết định phạm vi, quy mô sản xuất. Khi tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh thì hoạt động đó lại mang tính dịch vụ xã hội, cung cấp hàng hoá công cộng cho xã hội, hoạt động mang tính công ích. Khi xảy ra hạn hán, lũ lụt, hoạt động khai thác công trình thuỷ lợi gần như hoàn toàn vì mục tiêu chính trị - xã hội, các cấp chính quyền can thiệp vào việc điều hành sản xuất của đơn vị quản lý công trình.
Hệ thống công trình thuỷ lợi có giá trị lớn tuy nhiên vốn lưu động ít, lại quay vòng chậm. Để có kinh phí hoạt động, có những lúc các đơn vị quản lý công trình phải vay ngân hàng và trả một khoản lãi vay khá lớn. Sản phẩm của công tác khai thác công trình thuỷ lợi là hàng hoá đặc biệt có tính chất đặc thù riêng biệt. Sản phẩm là khối lượng nước tưới, tiêu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và cho sinh hoạt.
Hiện nay đang sử dụng đơn vị diện tích tưới tiêu để tính toán xác định số lượng của sản phẩm, nhưng đơn vị diện tích lại không phản ánh đúng hao phí nhân công, vật liệu để sản xuất ra sản phẩm và không phản ánh đúng số lượng sản phẩm, chất lượng sản phẩm của người bán cũng như người mua nên gây khó khăn cho cả người mua và người bán. Lao động của các đơn vị quản lý khai thác công trình thuỷ lợi bị phân bố dàn trải và mang tính chất thời vụ. Công trình trải rộng khắp nên lực lượng công nhân phải trải rộng theo để vận hành hệ thống. Công trình thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp là chính nên nó mang đặc thù phụ thuộc vào thời vụ sản xuất nông nghiệp.
7 Công trình thuỷ lợi phục vụ cho nhiều đối tượng. Trước kia, công trình chủ yếu chỉ phục vụ cho tưới tiêu nông nghiệp, hiện nay phục vụ cung cấp nước cho công nghiệp, tiểu cho khu công nghiệp và khu dân cư.4 Các mô hình quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi Sản xuất, cung ứng sản phẩm dịch vụ công là chủ đề được bàn luận khá nhiều trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 3 của BCH trung ương Đảng Khoá IX về “tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước", đặc biệt trong quá trình xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý để Việt nam gia nhập WTO. Tuy còn có ý kiến tranh luận, nhưng các nhà quản lý đều thống nhất quan điểm chung “Đổi mới phương thức quản lý, sản xuất cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích là yêu cầu tất yếu. Không thể duy trì các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích mà luôn nằm trong tình trạng kinh doanh kém hiệu quả, nhưng lại nắm tài sản lớn, giữ vị trí quan trọng trong nhiều ngành và lĩnh vực, ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế xã hội”.
Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng nhiều chính sách mới về quản lý, sản xuất cung ứng hàng hoá dịch vụ công ích đã được bàn hành, tạo lập khung pháp lý và môi trường kinh doanh bình đẳng trong cơ chế thị trường cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Một số mô hình quản lý và khai thác công trình thủy lợi chủ yếu: 1.1 Mô hình tổ chức quản lý công trình thủy lợi cấp tỉnh (liên huyện) Đây là hình thức doanh nghiệp trực tiếp quản lý, vận hành công trình cấp nước. Công ty được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nên bộ máy tổ chức, hoạt động dịch vụ kinh doanh tương đối bài bản, có tính chuyên nghiệp cao nên công tác quản lý và vận hành các công trình tốt. Một công ty khai thác công trình thủy lợi, tùy theo mô hình, có các xí nghiệp thủy lợi QLKT CTTL, mỗi xí nghiệp thì gắn với một huyện trên địa bàn tỉnh.
Tại mỗi xí nghiệp có các cụm trạm và tổ đội thuỷ nông trực thuộc. Tuy nhiên loại mô hình này phù hợp với các hệ thống công trình cấp nước có quy mô lớn hoặc đối với cụm các công trình tương đối tập trung và điều kiện kinh tế phát triển. 8 Mô hình tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi được mô tả trong hình dưới đây: UBND Tỉnh Sở Tài chính Sở NN - PTNT Chi cục Thủy Lợi Trình và phê duyệt kế hoạch tưới tiêu, Công ty KT CTTL tài chính XN1 XN2 XNn Phòng NN và Phòng Tài PTNT Huyện chính UBND Xã Kiểm sát Ban chủ nhiệm HTX DV Nông nghiệp Thôn Tổ Tổ Các tổng vận tổ Các tổ dịch vụ thôn hợp hành DV CTT khác L Quản lý nhà nước, ra quyết định Các tổ dịch vụ thôn Trình, phê duyệt và thẩm tra Phối hợp Hình 1.1 Mô hình tổ chức quản lý công trình thủy lợi cấp tỉnh (liên huyện) 1.2 Mô hình tổ chức quản lý công trình thuỷ lợi ở cấp huyện Đối với các công trình quy mô nhỏ, yêu cầu quản lý vận hành đơn giản thì phân giao đơn vị quản lý vận hành cấp huyện thực hiện. Các công trình này thường có quy mô nhỏ, phục vụ tưới tiêu cho nhiều xã hoặc nội xã.
9 UBND huyện kí hợp đồng đặt hàng với các HTX dịch vụ nông nghiệp trong huyện thực hiện QLKT CTTL trên địa bàn các xã nơi HTX hoạt động. Mô hình tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi được mô tả trong hình dưới đây: UBND Tỉnh Sở Tài chính Sở NN - PTNT Chi cục Thủy Lợi Trình và phê duyệt kế hoạch tưới tiêu, UBND Huyện tài chính Phòng Phòng Tài NN - PTNT chính Đặt hàng Kiểm Ban chủ sát nhiệm UBND Xã HTX DV Nông nghiệp Thôn Tổ Tổ Các tổ tổng vận dịch hợp hành vụ CTTL khác Các tổ dịch vụ thôn Các tổ dịch vụ thôn Quản lý nhà nước, ra quyết định Trình, phê duyệt và thẩm tra Phối hợp Hình 1.2 Mô hình tổ chức quản lý công trình thủy lợi ở cấp huyện 1.3 Mô hình do UBND xã, hợp tác xã quản lý vận hành Các công trình thủy lợi sau xây dựng được bàn giao cho UBND xã quản lý, vận hành. UBND xã có thể thành lập Ban hoặc tổ vận hành trực thuộc UBND xã để quản lý, vận hành, duy tu và bảo dưỡng công trình. Mô hình này đang bộc lộ nhiều bất cập vì sự lẫn 10 lộn đan xen chức năng quản lý Nhà nước của UBND xã với quản lý vận hành, cán bộ phụ trách thường do UBND xã phân công kiêm nhiệm nên không có chuyên môn nghiệp vụ và không dành nhiều thời gian để thực hiện nhiệm vụ, chế độ cho cán bộ trực tiếp vận hành không rõ ràng nên ít người muốn tham gia.
Mô hình hợp tác xã quản lý CTTL là mô hình hoạt động theo Luật Hợp tác xã và đang được áp dụng phổ biến ở cấp xã để quản lý các hệ thống công trình nhỏ lẻ với quy mô nhỏ và vừa. Thực tế, mô hình đang phát huy hiệu quả vì nó là một tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện góp vốn lập ra và cùng nhau quản lý, vận hành.2 Nội dung quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi Một hệ thống công trình thuỷ lợi sau khi xây dựng xong cần thiết lập một hệ thống quản lý để khai thác phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp và phục vụ cho sự phát triển dân sinh, kinh tế, xã hội. Hệ thống quản lý là tập hợp và phối hợp theo không gian và thời gian của tất cả các yếu tố như: hệ thống công trình, trang thiết bị, con người và các yếu tố chính trị-xã hội. Công tác quản lý khai thác hệ thống CTTL bao gồm nhiều nội dung.