Tài liệu: Luận văn quản lý công cải thiện sinh kế của người dân trước yêu

Nghiên cứu giải pháp cải thiện sinh kế người dân gắn với bảo tồn rừng đặc dụng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu Phước Bửu tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

65
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách tiếp cận mới về quản lý công và sinh kế tại Bình Châu Phước Bửu

Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu đóng vai trò quan trọng trong hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam. Với diện tích hơn 10.000 ha, khu vực này sở hữu hệ sinh thái rừng tự nhiên ven biển độc đáo. Tuy nhiên, sự tồn tại của cộng đồng dân cư trong vùng lõi tạo ra áp lực lớn cho công tác bảo tồn. Quản lý nhà nước về rừng đặc dụng tại đây đòi hỏi sự cân bằng giữa mục tiêu bảo vệ tài nguyên và đảm bảo đời sống người dân. Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Na sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững của DFID để đánh giá thực trạng này. Việc phân tích dựa trên năm nguồn vốn: con người, tự nhiên, vật chất, tài chính và xã hội. Đây là cơ sở khoa học để đề xuất các chính sách Phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu một cách bền vững. Các cơ quan quản lý cần nhìn nhận sinh kế không chỉ là thu nhập mà còn là năng lực thich ứng. Sự mâu thuẫn giữa nhu cầu sử dụng đất canh tác và yêu cầu bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng đặc dụng ngày càng gay gắt. Chính sách công về lâm nghiệp hiện hành đang đối mặt với thử thách di dời 583 hộ dân ra khỏi khu bảo tồn. Quá trình này không chỉ đơn thuần là chuyển đổi chỗ ở mà là tái cấu trúc toàn bộ hệ thống sinh kế. Việc hiểu rõ các yếu tố hình thành sinh kế sẽ giúp chính quyền đưa ra quyết định quản lý công hiệu quả. Tài liệu nghiên cứu chỉ ra rằng, việc thiếu hụt cơ sở hạ tầng thiết yếu trong rừng làm suy giảm chất lượng sống của cư dân. Đồng thời, các hoạt động canh tác nông nghiệp không kiểm soát gây tổn hại nghiêm trọng đến Đa dạng sinh học Bình Châu Phước Bửu. Vì vậy, một chiến lược quản lý tích hợp là yêu cầu cấp thiết để giải quyết bài toán sinh kế và bảo tồn.

1.1. Vai trò đa dạng sinh học Bình Châu Phước Bửu trong hệ thái

Khu bảo tồn sở hữu địa hình đa dạng từ vùng bằng phẳng, đồi núi đến cồn cát ven biển và hệ thống hồ trũng. Sự đa dạng này tạo nên cảnh quan phong phú, là nơi lưu giữ nhiều loài sinh vật quý hiếm. Đa dạng sinh học Bình Châu Phước Bửu không chỉ có giá trị về mặt bảo tồn mà còn là tiềm năng lớn cho Du lịch sinh thái bền vững. Tuy nhiên, diện tích rừng tự nhiên đang bị đe dọa bởi hoạt động chặt phá rừng làm nương rẫy của người dân di cư.

1.2. Khung phân tích sinh kế bền vững theo DFID trong quản lý công

Nghiên cứu áp dụng khung DFID để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống hộ gia đình. Khung này bao gồm: tài sản sinh kế, bối cảnh tổn thương, các định chế chính sách và chiến lược sinh kế. Việc sử dụng mô hình này giúp các nhà quản lý công nhận diện rõ những thiếu hụt về vốn con người và vốn vật chất của cư dân vùng lõi. Đây là tiền đề để xây dựng Chính sách công về lâm nghiệp sát với thực tế địa phương.

II. Top thách thức gây xung đột giữa bảo tồn rừng và phát triển sinh kế

Sự xung đột giữa bảo tồn và phát triển tại Bình Châu – Phước Bửu bắt nguồn từ lịch sử di dân kinh tế mới. Sau năm 1975, nhiều hộ dân được điều động đến lập nghiệp nhưng thiếu quy hoạch đất ở ổn định. Quá trình phát triển kinh tế tự phát dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất rừng để canh tác nông nghiệp. Hiện nay, khoảng 1.570 ha rừng, tương đương 15% diện tích tự nhiên, đang bị các hộ dân sử dụng trái phép. Điều này gây áp lực cực lớn lên công tác Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng. Người dân sống trong rừng đối mặt với tình trạng không có điện, nước sạch và giao thông khó khăn. Các cơ quan chức năng không thể đầu tư hạ tầng kiên cố do vướng quy chế rừng đặc dụng. Sự thiếu hụt này làm gia tăng An ninh sinh kế bấp bênh cho hàng trăm hộ gia đình. Theo thống kê, số vụ vi phạm lâm luật tại đây chiếm tới 68% toàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Các hành vi chủ yếu bao gồm chặt phá cây rừng, lấn chiếm đất và khai thác lâm sản trái phép. Mâu thuẫn nảy sinh khi chính quyền thực hiện chủ trương di dời dân cư để tái tạo rừng. Những hộ có diện tích đất canh tác lớn thường phản đối quyết liệt do lo ngại mất nguồn thu nhập chính. Trong khi đó, nhóm hộ nghèo lại dễ thỏa hiệp hơn nhưng thiếu vốn để tái định cư. Kinh tế học môi trường chỉ ra rằng, nếu không giải quyết được lợi ích kinh tế, người dân sẽ tiếp tục xâm hại rừng. Thách thức lớn nhất hiện nay là thiếu nguồn lực tài chính để thực hiện đề án di dời trị giá hàng nghìn tỷ đồng.

2.1. Thực trạng xâm canh và lấn chiếm đất rừng đặc dụng hiện nay

Diện tích đất rừng bị lấn chiếm lên tới 1.570 ha với 583 hộ dân đang sinh sống trực tiếp. Các hộ chủ yếu trồng cây nông nghiệp ngắn ngày như khoai mì hoặc cây lâu năm như điều và hồ tiêu. Hoạt động này làm biến đổi cấu trúc rừng tự nhiên và gây khó khăn cho công tác quản lý biên giới rừng. Tình trạng này phản ánh sự yếu kém trong Quản lý nhà nước về rừng đặc dụng giai đoạn trước.

2.2. Bối cảnh tổn thương và an ninh sinh kế của hộ dân vùng lõi

Người dân vùng lõi chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tính mùa vụ và thiên tai. Mùa khô kéo dài gây thiếu nước sản xuất, trong khi dịch bệnh trên cây điều làm giảm sút thu nhập nghiêm trọng. An ninh sinh kế bị đe dọa khi 70% hộ dân không thể tiếp cận nguồn vốn ngân hàng do thiếu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Họ phải đối mặt với tín dụng đen với lãi suất lên tới 30%/năm.

III. Phương pháp cải thiện sinh kế bền vững cho cư dân vùng lõi bảo tồn

Để giải quyết xung đột, cần triển khai các phương pháp cải thiện sinh kế đa chiều. Trước hết, việc Chuyển đổi nghề nghiệp cho người dân vùng lõi phải được ưu tiên hàng đầu. Phần lớn lao động tại đây có trình độ thấp, chủ yếu làm nghề rẫy hoặc thuê mướn. Chính quyền cần tổ chức các lớp đào tạo nghề ngắn hạn phù hợp với nhu cầu của các khu công nghiệp tại Bà Rịa – Vũng Tàu. Song song đó, việc xây dựng Mô hình sinh kế cộng đồng dựa trên lợi thế địa phương là rất cần thiết. Phát triển các tổ hợp tác chăn nuôi bò thịt hoặc dịch vụ du lịch có thể thay thế cho việc trồng trọt xâm lấn rừng. Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng cho phép người dân tham gia bảo vệ rừng và hưởng lợi từ các dịch vụ môi trường. Chính sách này giúp thay đổi tư duy từ khai thác sang bảo tồn chủ động. Việc cải thiện vốn tài chính thông qua các quỹ tín dụng ưu đãi của Ngân hàng Chính sách Xã hội là giải pháp then chốt. Hộ dân cần được hỗ trợ vốn để đầu tư vào các hoạt động sản xuất không gây hại đến rừng. Ngoài ra, việc đầu tư vào vốn con người thông qua giáo dục cho trẻ em vùng đệm sẽ đảm bảo sinh kế bền vững trong tương lai. Tỷ lệ trẻ em bỏ học 32% hiện nay là một báo động đỏ cần sự can thiệp của các chính sách an sinh xã hội. Các giải pháp cần được thực hiện đồng bộ, có sự phối hợp giữa Ban quản lý khu bảo tồn và chính quyền địa phương. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra các lựa chọn sinh kế thay thế hấp dẫn hơn việc phá rừng.

3.1. Mô hình sinh kế cộng đồng và quản lý tài nguyên dựa vào dân

Khuyến khích hình thành các nhóm cộng đồng cùng quản lý và bảo vệ rừng đặc dụng. Người dân được tham gia vào các hoạt động tuần tra và nhận thù lao từ nguồn kinh phí bảo vệ rừng. Mô hình sinh kế cộng đồng này không chỉ tạo thu nhập mà còn nâng cao trách nhiệm của cư dân đối với tài nguyên thiên nhiên. Đây là hướng đi đúng đắn trong quản lý công hiện đại.

3.2. Chiến lược chuyển đổi nghề nghiệp cho người dân vùng lõi

Tập trung đào tạo kỹ năng cho lao động trẻ để chuyển dịch sang các ngành dịch vụ và công nghiệp. Hiện chỉ có 23,1% lao động qua đào tạo, con số này cần được cải thiện thông qua các chính sách hỗ trợ học phí. Việc Chuyển đổi nghề nghiệp cho người dân vùng lõi giúp giảm sự phụ thuộc trực tiếp vào đất rừng, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác di dời dân cư.

IV. Bí quyết thực thi chính sách công về lâm nghiệp và chuyển đổi nghề

Việc thực thi Luật Lâm nghiệp 2017 mở ra nhiều cơ hội mới cho công tác quản lý tại Bình Châu – Phước Bửu. Luật cho phép người dân tham gia sản xuất lâm, nông, ngư kết hợp dưới tán rừng đặc dụng. Đây là điểm mấu chốt để thuyết phục người dân bàn giao đất canh tác trái phép. Chính sách mới cũng quy định rõ quyền lợi của người dân khi được hưởng lâm sản tăng thêm từ rừng trồng. Để thực hiện thành công, chính quyền tỉnh cần xây dựng lộ trình di dời dân cư gắn liền với tái định cư ổn định. Chính sách công về lâm nghiệp phải đảm bảo nguyên tắc người dân có nơi ở mới tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ. Việc chi trả đền bù cần thỏa đáng, đặc biệt là đối với các tài sản vật chất và cây trồng lâu năm. Một giải pháp đột phá là áp dụng Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES). Nguồn thu từ các doanh nghiệp du lịch sinh thái sẽ được trích lại để hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng bảo vệ rừng. Điều này tạo ra vòng lặp kinh tế bền vững: rừng được bảo vệ tốt thu hút du lịch, du lịch tạo nguồn thu tái đầu tư cho sinh kế. Ban quản lý khu bảo tồn cần đóng vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và người dân. Việc công khai minh bạch các phương án hỗ trợ di dời sẽ giúp giảm bớt sự phản kháng từ phía cư dân. Ngoài ra, cần có các chính sách đặc thù hỗ trợ nhóm hộ nghèo và cận nghèo trong quá trình chuyển đổi nghề nghiệp. Sự thành công của chính sách phụ thuộc vào khả năng thực thi của bộ máy quản lý công tại địa phương.

4.1. Thực thi Luật Lâm nghiệp 2017 trong quản lý rừng đặc dụng

Luật Lâm nghiệp 2017 chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kinh tế lâm nghiệp bền vững. Các quy định mới về giao khoán rừng và chia sẻ lợi ích giúp người dân gắn bó hơn với công tác bảo tồn. Việc áp dụng đúng các điều khoản của luật sẽ giúp giải quyết các nút thắt pháp lý trong việc xử lý đất lấn chiếm tại khu bảo tồn Bình Châu – Phước Bửu.

4.2. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và an ninh sinh kế

Triển khai Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng giúp tạo nguồn tài chính ổn định cho công tác bảo vệ rừng. Các cơ sở kinh doanh du lịch tại huyện Xuyên Mộc phải có trách nhiệm đóng góp vào quỹ này. Nguồn kinh phí thu được sẽ dùng để chi trả cho các hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng, góp phần củng cố An ninh sinh kế cho người dân vùng đệm.

V. Ứng dụng mô hình sinh kế cộng đồng và kết quả nghiên cứu thực tiễn

Kết quả nghiên cứu thực tiễn tại Bình Châu – Phước Bửu cho thấy tiềm năng lớn từ mô hình Du lịch sinh thái bền vững. Hiện đã có 19 dự án du lịch được cấp chủ trương đầu tư dưới tán rừng. Các dự án này không chỉ đóng góp vào ngân sách mà còn là nơi tiếp nhận lao động địa phương. Việc kết hợp giữa bảo tồn rừng và kinh doanh du lịch giúp nâng cao giá trị của Đa dạng sinh học Bình Châu Phước Bửu. Tuy nhiên, cần có quy chế giám sát chặt chẽ để các dự án này không làm tổn hại đến hệ sinh thái. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, những hộ dân tham gia vào các tổ chức xã hội như Hội Phụ nữ hay Hội Nông dân có khả năng thich ứng tốt hơn. Vốn xã hội giúp họ chia sẻ thông tin về kỹ thuật sản xuất và các chính sách hỗ trợ của nhà nước. Về mặt kinh tế, thu nhập bình quân của các hộ khá/giàu đạt mức 18,6 triệu đồng/tháng, cao hơn nhiều so với nhóm hộ nghèo. Sự chênh lệch này đòi hỏi các chính sách hỗ trợ phải có tính phân hóa đối tượng. Phát triển bền vững vùng đệm cần gắn liền với việc xây dựng hạ tầng thiết yếu như trường học, trạm y tế tại các khu tái định cư. Kết quả khảo sát cho thấy, phần lớn người dân sẵn sàng di dời nếu được cấp đất sản xuất mới. Đây là dữ liệu quan trọng để UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu hoàn thiện đề án di dân. Việc ứng dụng công nghệ trong quản lý rừng và giám sát sinh kế sẽ giúp tối ưu hóa hiệu quả quản lý công trong thời gian tới.

5.1. Phát triển bền vững vùng đệm thông qua du lịch sinh thái

Phát triển vùng đệm là lá chắn quan trọng bảo vệ vùng lõi khu bảo tồn. Các mô hình Du lịch sinh thái bền vững giúp tạo ra giá trị kinh tế mà không cần khai thác tài nguyên rừng. Chính quyền cần khuyến khích các doanh nghiệp ưu tiên tuyển dụng lao động là người dân địa phương đã thực hiện di dời khỏi khu bảo tồn.

5.2. Đánh giá tác động của dự án di dời dân cư đến đời sống

Dự án di dời có tác động hai mặt đến sinh kế người dân. Một mặt, nó giúp cư dân tiếp cận hạ tầng tốt hơn, nhưng mặt khác lại làm mất đi tư liệu sản xuất quen thuộc. Việc đánh giá tác động cần dựa trên các chỉ số về thu nhập, việc làm và sự hài lòng của người dân sau khi định cư tại nơi ở mới.

VI. Tầm nhìn phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu bền vững

Tương lai của khu bảo tồn Bình Châu – Phước Bửu gắn liền với chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Tỉnh cần kiên trì mục tiêu di dời dân cư vùng lõi để phục hồi 100% diện tích rừng tự nhiên. Đây là hành động thiết thực để Thích ứng biến đổi khí hậu và bảo vệ nguồn tài nguyên nước. Quản lý công trong lĩnh vực lâm nghiệp cần chuyển đổi số mạnh mẽ để giám sát diễn biến rừng và sinh kế dân cư. Việc áp dụng các nguyên lý của Kinh tế học môi trường sẽ giúp định giá đúng giá trị của hệ sinh thái rừng. Từ đó, tỉnh có thể xây dựng các cơ chế tài chính bền vững để nuôi dưỡng rừng. Sinh kế của người dân phải được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với sự phát triển của ngành du lịch và dịch vụ. Tầm nhìn đến năm 2030, Bình Châu – Phước Bửu sẽ trở thành điểm đến du lịch sinh thái đẳng cấp quốc tế. Khi đó, cộng đồng địa phương sẽ là những người hưởng lợi chính từ việc bảo tồn rừng. Các chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cần được duy trì dài hạn để đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau. Sự đồng thuận của người dân là chìa khóa thành công cho mọi sáng kiến quản lý công. Đầu tư cho rừng chính là đầu tư cho tương lai bền vững của thế hệ mai sau. Bài học từ Bình Châu – Phước Bửu sẽ là hình mẫu cho các khu bảo tồn khác trên cả nước trong việc giải quyết xung đột giữa bảo tồn và sinh kế.

6.1. Kinh tế học môi trường trong quản lý công hiện đại

Sử dụng các công cụ kinh tế để điều chỉnh hành vi của các bên liên quan đối với tài nguyên rừng. Việc lượng hóa giá trị dịch vụ hệ sinh thái giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn tổng thể về lợi ích của bảo tồn. Đây là xu hướng tất yếu trong quản lý công bền vững tại Việt Nam và trên thế giới.

6.2. Thích ứng biến đổi khí hậu và tương lai rừng đặc dụng

Rừng đặc dụng Bình Châu – Phước Bửu đóng vai trò là bể chứa carbon và lá chắn xanh ven biển. Trong bối cảnh nước biển dâng, việc bảo vệ rừng là giải pháp tự nhiên hiệu quả nhất để Thích ứng biến đổi khí hậu. Các chiến lược quản lý rừng cần tích hợp các kịch bản biến đổi khí hậu để đảm bảo tính bền vững lâu dài.

13/10/2025
Luận văn quản lý công cải thiện sinh kế của người dân trước yêu cầu bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng tại khu bảo tồn thiên nhiên bình châu phước bửu tỉnh bà rịa vũng tàu

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 giới thiệu bối cảnh nghiên cứu để ra đời đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục luận văn. Chương 2 trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu và các nghiên cứu trước đây. Chương 3 trình bày kết quả nghiên cứu, phân tích và thảo luận. Chương 4 trình bày kết luận về đề tài nghiên cứu và đề xuất một số khuyến nghị đồng thời làm rõ những hạn chế của đề tài trong quá trình nghiên cứu.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Đề tài sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Vương Quốc Anh (DFID, 2001) nhằm xác định yếu tố hình thành sinh kế của con người và những mối quan hệ tác động của các chính sách đến các yếu tố đó. Khung phân tích sinh kế bền vững theo DFID TÀI SẢN SINH KẾ KẾT QUẢ SINH BỐI CẢNH DẼ TỔN CÁC CƠ CẤU VÀ QUY THƯƠNG TRÌNH CHUYỂN ĐỔI KẾ Vốn con người  Tăng thu nhập  Các cú sốc CƠ CẤU:  Tăng phúc lợi Vốn tự nhiên Vốn xã hội  Thể chế  Các xu ẢNH  Giảm tổn CHIẾ HƯỞNG & Chính quyền thương N hướng * Phápluật LƯỢ Vốn vật chất TIẾP CẬN Vốn tài chính  KV tư nhân * Chính sách C  Cải thiện lương  Tính mùa vụ SINH thực * Văn hóa KẾ  Sử dụng bền vững các nguồn lực tự nhiên (Nguồn: DFID, 2001). Các khái niệm liên quan: 2. Khái niệm sinh kế: Sinh kế của con người được hình thành dựa trên các yếu tố bao gồm năng lực của con người, tài sản vật chất và xã hội mà họ có thể tiếp cận và hoạt động cần thiết để phối hợp các nguồn lực trên nhằm mục đích kiếm sống (Chambers R.

Sinh kế được gọi là bền vững khi nó có khả năng phản ứng tự vệ trước các tổn thương mà không cần sự hỗ trợ nhất thời từ bên ngoài, đồng thời không gây ảnh hưởng bất lợi đến sinh kế của người khác và không làm giảm nguồn tài nguyên có thể khai thác của thế hệ tương lai (DFID,2001). Khái niệm bối cảnh tổn thương: Là những tình huống bất lợi xảy ra nhưng con người không có khả năng đối phó (GLOPP,2008,tr3). Có 3 loại tổn thương: - Các cú sốc có thể kể đến như tai nạn, bệnh tật, thiên tai hoặc dịch bệnh làm cho suy giảm tài sản của hộ gia đình. - Các xu hướng có thể xảy ra trong tương lai như sự suy giảm tài nguyên thiên nhiên, hạn hán do biến đổi khí hậu làm ảnh hưởng đến hoạt động trồng trọt, chăn nuôi của hộ gia đình, hoặc các xu hướng biến động kinh tế gây bất lợi cho cá nhân hoặc hộ gia đình.

- Tính mùa vụ: là sự thay đổi theo chu kỳ sinh trưởng cuả động thực vật, hoặc tính biến động theo mùa của thị trường, gây ra các xáo trộn có tính chu kỳ. Khái niệm tài sản sinh kế: Tài sản sinh kế có 5 loại: Vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội (DFID, 2001). Nguồn vốn con người gồm các năng lực cụ thể của con người như kiến thức, kĩ năng và năng lực tiềm tàng thuộc về mỗi cá nhân để giúp họ tạo ra phúc lợi cho bản thân và cho xã hội (OECD, 2001, tr. Khảo sát ở cấp độ hộ gia đình, vốn nhân lực được thể hiện ở năm yếu tố: số nhân khẩu trong hộ, số lao động tạo thu nhập cho gia đình, trình độ giáo dục, kiến thức và kĩ năng của các thành viên hộ (FAO, 2005, tr.

Nguồn vốn xã hội là mối quan hệ kết nối những con người khác nhau trong xã hội để phối hợp hoạt động có hiệu quả không chỉ dựa trên cơ sở của niềm tin, sự hiểu biết lẫn nhau mà còn dựa trên các giá trị chia sẻ cho nhau (Don Cohen & Laurence Prusak, 2001, tr. Nguồn vốn tự nhiên là các yếu tố thuộc về tài nguyên thiên nhiên mà con người có thể khai thác và sử dụng để tạo ra giá trị một cách trực tiếp hay gián tiếp (Natural Capital -14- Committee, 2013, tr. 9 Nguồn vốn tự nhiên đặc biệt quan trọng đối với những người mà hoạt động sinh kế căn bản phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên (trồng trọt, chăn nuôi, khai thác sử dụng các sản phẩm từ rừng). Nguồn vốn vật chất: bao gồm tài sản công cộng và tài sản sở hữu tư nhân.

Tài sản công cộng gồm cơ sở hạ tầng kĩ thuật như: đường sá, phương tiện giao thông công cộng, nguồn nước sạch, hệ thống điện, hệ thống truyền thông tin và cơ sở hạ tầng xã hội trường học, cơ sở y tế, chợ. Tài sản thuộc sở hữu tư nhân gồm các phương tiện phục vụ sinh hoạt và sản xuất. Đối với người dân đang sống tại lõi rừng của Khu Bảo tồn tài sản vật chất của họ gồm: nhà cửa, xe cộ, máy móc, trang thiết bị sinh hoạt và sản xuất, dụng cụ lao động, động vật nuôi. Nguồn vốn tài chính: được hiểu là tiền và các khoản tương đương tiền có thể dễ dàng quy đổi thành tiền để phục vụ cho việc đạt được các mục tiêu sinh kế.

Vốn tài chính thể hiện dưới dạng nguồn thu nhập, tiết kiệm tiền mặt, các khoản tín dụng, bảo hiểm, trang sức, vật nuôi, trợ cấp. Các cơ cấu và các quy trình chuyển đổi đề cập đến môi trường thể chế, cách thức tổ chức cùng với sự hiện diện của các chính sách, các quy định pháp luật ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế của người dân (DFID, 2001). Tổng quan các nghiên cứu trước: Nghiên cứu tình huống sinh kế của người dân tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu tác giả dựa vào 3 nghiên cứu của một số tác giả trước đó có sử dụng khung phân tích DFID như sau: Về vấn đề giải quyết chính sách định canh, định cư tác giả đã tham khảo nghiên cứu của Dương Minh Ngọc (2013) thực hiện nghiên cứu về tình huống người dân di cư vào cư trú giữa rừng Buôn Ya wầm trên địa bàn xã EA KIẾT huyện Cư Mgar, tỉnh Đắc Lắc. Chủ rừng đã phối hợp với chính quyền địa phương di dân ra khỏi rừng bố trí khu vực định canh định cư có chính sách hỗ trợ cấp 600m2 đất ở, cấp bảo hiểm y tế miễn phí, hỗ trợ tiền di chuyển với mức 5 triệu đồng mỗi hộ và cấp mỗi hộ 2 con heo giống để nuôi phát triển kinh tế gia đình.

Ngoài ra, Nhà nước hợp 10 thức hóa đất khai hoang trong rừng cho người dân tiếp tục sản xuất. Tuy nhiên sau hai năm khi dự án định cư, định canh hình thành chỉ có 51 hộ trong tổng số 131 hộ đang sống trong rừng chuyển vào khu định canh định cư bởi nếu hộ dân di chuyển ra ngoài sợ mất đất sản xuất, sợ bị thu hồi lại tài sản nếu hộ chuyển đi nơi khác, đi lại từ nơi ở đến nơi canh tác xa sợ bị phá hoại cây trồng trong khi đó nguồn nước nơi ở mới có nhiều lắng cặn làm người dân lo lắng. Từ đó tác giả có những khuyến nghị đối với UBND tỉnh Đắk lắk phải bố trí nguồn vốn tăng mức hỗ trợ di dời, xây dựng hệ thống thoát nước để thu hút người dân đồng thời kiến nghị huyện Cư M’gar phải cưỡng chế các hộ dân cư trú trong rừng ra ngoài nhằm hạn chế tình trạng phá rừng đồng thời xử lý nghiêm những hành vi vi phạm lâm luật. Về vấn đề giải quyết sinh kế cho hộ dân tác giả tham khảo nghiên cứu tình huống của Nguyễn Xuân Vinh (2014) chính sách sinh kế kết hợp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên tình huống được nghiên cứu tại xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

Nghiên cứu này tác giả đã đề xuất mô hình sinh kế cộng đồng nhằm đem lại cho người dân sự cải thiện về khả năng tiếp cận các nguồn vốn vật chất và nguồn vốn tài chính bởi theo tác giả Nguyễn Xuân Vinh các hộ dân bị thiếu hụt nguồn vốn và kỹ thuật có thể được giải quyết bằng cách tham gia các mô hình sản xuất tập thể hợp tác xã và nhóm sản xuất có sự hỗ trợ của Nhà nước. Về vấn đề giải quyết di dời dân ra khỏi rừng đặc dụng tác giả tham khảo nghiên cứu của Đỗ Vũ Gia Linh (2015): “Cải thiện sinh kế cho người dân trong yêu cầu bảo tồn tài nguyên tại ấp 5 xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai”, khi thực hiện chủ trương di dời 1300 hộ dân ra khỏi rừng đặc dụng Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai. Tuy nhiên dự án hình thành từ năm 2001 kéo dài 15 năm nhưng vẫn chưa thực hiện được vì thiếu nguồn lực từ đó tác giả đã đề xuất một số khuyến nghị như ưu tiên giải quyết di dời cho hộ nghèo vì họ dễ thỏa hiệp đồng ý phương án hỗ trợ khi di dời, còn các hộ nhiều đất sản xuất kinh tế khá có thể ổn định tại chỗ để bảo vệ rừng. Bên cạnh đó tác giả đề xuất UBND tỉnh Đồng Nai mạnh dạn thực hiện thí điểm mô hình giao khoán đất rừng đặc dụng vì nó đã áp dụng thành công ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Đồng thời tác giả cũng khuyến nghị các cơ quan chức năng của tỉnh cần có chính sách hỗ 11 trợ kỹ thuật chuyển đổi giống cây trồng như giống điều cao sản có năng suất chất lượng cao, hỗ trợ giống bò laisin để các hộ chăn nuôi và tổ chức các lớp dạy nghề cho đối tượng bị tác động để từng bước họ chuyển đổi nghề nghiệp giảm tình trạng chặt phá rừng làm nương rẫy. Về vấn đề tái định cư và nghiên cứu những người bị ảnh hưởng khi thực hiện dự án tác giả dựa vào nghiên cứu: “Cuốn cẩm nang tái định cư” của ngân hàng ADB trong đó đề cao chính sách tái định cư bắt buộc đã được Ban giám đốc của ngân hàng thông qua vào tháng 11 năm 1995. Trong cuốn cẩm nang này nghiên cứu rất cụ thể những thiệt hại do tái định cư gây ra và những người được gọi là người bị ảnh hưởng. Đó chính là những người phải chịu thiệt hại do hậu quả của dự án, toàn bộ hay một phần tài sản vật chất hay phi vật chất bao gồm nhà cửa, cộng đồng, đất canh tác, tài nguyên rừng, đất chăn nuôi, nơi đánh cá hoặc những điểm văn hóa quan trọng, những tài sản có gía trị thương mại, sự thuê mướn, những cơ hội tạo thu nhập, những mạng lưới và các hoạt động xã hội và văn hóa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ