Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực với đối tượng là cán bộ công chức. Chương 2: Thực trạng công tác phát triển nguồn nhân lực của UBND huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi. Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho UBND huyện Sơn Hà đến năm 2022. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VỚI ĐỐI TƯỢNG LÀ CÁN BỘ CÔNG CHỨC 1.
Một số vấn đề chung về cán bộ, công chức 1. Khái niệm về cán bộ, công chức Các nước khác nhau thì khái niệm về cán bộ, công chức (CB, CC) cũng khác nhau, đa số các nước đều giới hạn CB, CC trong phạm vi bộ máy hành chính nhà nước (Chính phủ và cấp địa phương). Ở nước ta, phù hợp với thể chế chính trị và tổ chức bộ máy Đảng, nhà nước, đoàn thể, chúng ta dùng khái niệm “cán bộ, công chức”. Theo Pháp lệnh CB, CC ban hành ngày 09/03/1998 và các văn bản khác của Chính phủ thì “CB, CC là công dân Việt Nam trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm: - Những người do bầu cử để đảm nhận chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội.
- Những người làm việc trong tổ chức chính trị xã hội và một số tổ chức xã hội nghề nghiệp, được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc phân công làm nhiệm vụ thường xuyên. - Những người làm việc trong cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong biên chế, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn và được xếp vào một ngạch. - Các thẩm phán, kiểm sát viên được bổ nhiệm. - Những người làm việc trong các cơ quan thuộc quân đội công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao làm nhiệm vụ thường xuyên trong biên chế.
- Thành viên hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó giám đốc, kế toán trưởng trong các tổ chức nhà nước” [1] Theo Luật Cán bộ công chức (Luật số 22/2008/QH12, ngày 13/11/2008) của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Cán bộ là người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ 6 trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [2]. “Công chức là người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội” [2] 1. Chức năng của cán bộ, công chức “Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước.
Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao. Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và ngƣời thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định.
Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật” [2] 1. Phân loại cán bộ, công chức “Mỗi đối tượng CB, CC khác nhau về chức năng, nhiệm vụ, tiêu chuẩn, trình độ chuyên môn, do đó nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cũng khác nhau. Việc phân loại CB, CC cũng là một cơ sở để xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nhằm đáp ứng đúng các nhu cầu đào tạo đó” [2].
“Công chức lãnh đạo, quản lý là những người được bầu cử hoặc bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, chỉ đạo, có thẩm quyền pháp lý và được sử dụng một cách đầy đủ thẩm quyền ấy trong quá trình quản lý, có nhiệm vụ hoạch định 7 chủ trương công tác và điều khiển quá trình thực hiện ở một cấp độ nào đó nhưng ảnh hưởng lớn đến chất lượng công việc. Đối tượng này được quy hoạch, đào tạo căn bản cả về lý luận chính trị lẫn chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành, có khả năng tổng hợp và khái quát cao, đủ năng lực đảm nhiệm chức trách, nhiệm vụ được giao theo chuẩn quy định” [2]. “Công chức chuyên môn là những người đã được đào tạo, bồi dưỡng ở các trường lớp, có khả năng chuyên môn, được tuyển dụng, đảm nhận các chức vụ chuyên môn, nghiệp vụ trong cơ quan hành chính Nhà nước. Có trách nhiệm thực hiện những hoạt động nghiệp vụ chuyên ngành, họ được quy hoạch đào tạo theo tiêu chuẩn kiến thức nghiệp vụ với hai phân nhánh lý thuyết hoặc thực hành; có số lượng đông và hoạt động của họ có tính chất quyết định đến việc hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan và đơn vị” [2].
Phẩm chất đạo đức của cán bộ, công chức Đây là một tiêu chuẩn quan trọng đối với CB,CC. Họ phải là người hết lòng trong công việc, vì sự nghiệp phục vụ nhà nước, là công bộc của nhân dân, có đạo đức tốt, có tư cách đúng đắn trong thực thi công vụ. Người CB, CC trước tiên phải có một lịch sử bản thân rõ ràng, có một lý lịch phản ánh mối quan hệ gia đình và xã hội. Cán bộ phải biết đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, lấy quyền lợi của nhân dân làm mục tiêu quan trọng nhất trong công việc: “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”.
Điều quan trọng để CB, CC được dân tin yêu, ủng hộ không đơn thuần vì danh nghĩa mà chính là ở chỗ CB, CC phải có đạo đức, trung thực, thực sự gương mẫu trước dân, lo trước dân, vui sau dân, hết lòng chăm lo cho cuộc sống của dân. Tinh thần phục vụ nhân dân của CB, CC phải thể hiện được trong tác phong làm việc, muốn làm tốt việc lãnh đạo, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Một số khái niệm liên quan đến phát triển nguồn nhân lực là cán bộ công chức 1. Khái niệm về nguồn nhân lực của cơ quan hành chính Nhà nước Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân [3,tr27].
Theo khái niệm nguồn nhân lực thì có một số người được tính vào nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động. Đó là những người trong tuổi lao động không có việc làm, nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm; những người đang đi học, những người đang làm nội trợ trong gia đình và những người thuộc tính khác (nghỉ hưu trước tuổi quy định). Họ có khả năng lao động, nhưng lại không muốn lao động, hoặc không có khả năng lao động. Cần biết là trong nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ những người đang tham gia lao động là trực tiếp góp phần tạo ra thu nhập của xã hội và những người đang trong độ tuổi lao động nhưng lại không trực tiếp góp phần tạo ra thu nhập cho xã hội.
Nhân lực chính là lao động con người mà không máy móc nào thay thế được. Con người là tài sản quan trọng nhất mà một tổ chức có. Sự thành công của tổ chức phụ thuộc vào tính hiệu quả của cách “quản lý con người” bao gồm cả cách quản lý chính bản thân mình, quản lý nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp như thế nào. Nguồn nhân lực hành chính nhà nước là hệ thống cán bộ công chức hành chính.
Có thể hiểu: nguồn nhân lực hành chính là tổng thể các tiềm năng lao động của những ngƣời làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước. Tiềm năng lao động của con người bào gồm toàn bộ sức lao động (vốn kiến thức, kỹ năng làm việc, trình độ chuyên môn, đặc điểm tâm lý, các mối 9 quan hệ…) của con người sử dụng trong quá trình làm việc. Tiềm năng lao động trở thành khả năng hiện thực nếu nó được sử dụng và quản lý đúng đắn. Ở nước ta hiện nay, nguồn nhân lực hành chính bao gồm toàn bộ tiềm năng lao động của các con người ( gọi tên gọi là cán bộ công chức, viên chức) được nhà nước sử dụng để thực thi chức năng quản lý hành chính Nhà nước.
Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động [3,tr58]. Trước hết, phát triển nguồn nhân lực chính là toàn bộ những hoạt động tổng hợp được tổ chức bởi một đơn vị, do đơn vị cung cấp cho cán bộ, công chức. Các hoạt động đó có thể được cung cấp trong vài giờ, vài ngày hoặc thậm chí tới vài năm, tùy vào mục tiêu học tập và nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của họ. Như vậy, xét về nội dung, phát triển nguồn nhân lực bao gồm ba loại hoạt động là: Giáo dục, đào tạo và phát triển.
+ Giáo dục: Được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới thích hợp hơn trong tương lai. + Đào tạo (hay còn gọi là đào tạo kỹ năng): Được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho cán bộ, công chức có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho cán bộ, công chức nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của cán bộ, công chức để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn.