Luận văn thạc sĩ: Phát triển nguồn nhân lực tại UBND huyện Sơn Hà, Quảng Ngãi

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực hiệu quả tại UBND huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.

Trường đại học

Trường Đại học Duy Tân

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

100
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU

0.1. Mục tiêu nghiên cứu

0.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.3. Phương pháp nghiên cứu

0.4. Bố cục của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VỚI ĐỐI TƯỢNG LÀ CÁN BỘ CÔNG CHỨC

1.1. Một số vấn đề chung về cán bộ, công chức

1.1.1. Khái niệm về cán bộ, công chức

1.1.2. Chức năng của cán bộ, công chức

1.1.3. Phân loại cán bộ, công chức

1.1.4. Phẩm chất đạo đức của cán bộ, công chức

1.2. Một số khái niệm liên quan đến phát triển nguồn nhân lực là cán bộ công chức

1.2.1. Khái niệm về nguồn nhân lực của cơ quan hành chính Nhà nước

1.2.2. Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực

1.2.3. Vai trò và ý nghĩa của phát triển nguồn nhân lực

1.3. Nội dung phát triển nguồn nhân lực

1.3.1. Phát triển về số lượng và cơ cấu

1.3.2. Phát triển về chất lượng

1.3.3. Phát triển trình độ chuyên môn nghiệp vụ

1.3.4. Phát triển về kỹ năng nghề nghiệp

1.3.5. Nâng cao động lực cho người lao động

1.3.6. Nâng cao sức khỏe người lao động

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực

1.4.1. Các yếu tố bên ngoài

1.4.2. Các yếu tố bên trong

1.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HÀ

2.1. Giới thiệu về huyện Sơn Hà và Ủy ban nhân dân huyện Sơn Hà

2.1.1. Giới thiệu chung về huyện Sơn Hà

2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội

2.1.2. Giới thiệu về Ủy ban nhân dân huyện Sơn Hà

2.1.2.1. Cơ cấu tổ chức, hoạt động của UBND huyện Sơn Hà
2.1.2.2. Nguyên tắc làm việc của UBND huyện
2.1.2.3. Trách nhiệm, phạm vi, và cách thức giải quyết công việc của UBND huyện

2.2. Thực trang công tác phát triển nguồn nhân lực tại Ủy ban nhân dân huyện Sơn Hà trong thời kì 2014-2018

2.2.1. Khái quát về nguồn nhân lực tại Ủy ban nhân dân huyện Sơn Hà

2.2.2. Thực trạng về số lượng nguồn nhân lực tại Ủy ban nhân dân huyện Sơn Hà

2.2.2.1. Số lượng biên chế, hợp đồng được cơ quan có thẩm quyền giao
2.2.2.2. Số lượng biên chế và hợp đồng tại thời điểm 2018

2.2.3. Công tác phát triển về chất lượng nguồn nhân lực tại Ủy ban nhân dân huyện Sơn Hà

2.2.3.1. Sự thay đổi về chất lượng và số lượng đội ngũ công chức, viên chức

2.2.4. Công tuyển dụng, bố trí và đánh giá cán bộ, công chức

2.2.5. Công tác đào tạo nguồn nhân lực

2.2.6. Công tác đãi ngộ, động viên và tạo động lực cho người lao động

2.3. Đánh giá về công tác phát triển nguồn nhân lực tại Ủy ban nhân dân huyện Sơn Hà giai đoạn 2013-2018

2.4. Nguyên nhân những tồn tại, hạn chế

2.5. Tóm tắc chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HÀ ĐẾN NĂM 2022

3.1. Chiến lược phát triển huyện Sơn Hà và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực cho ủy ban nhân dân huyện Sơn Hà đến năm 2022

3.1.1. Mục tiêu và định hướng phát triển huyện Sơn Hà đến năm 2022

3.1.1.1. Mục tiêu phát triển
3.1.1.2. Định hướng phát triển

3.1.2. Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực cho ủy ban nhân dân huyện Sơn Hà đến năm 2022

3.1.2.1. Danh mục vị trí việc làm
3.1.2.2. Xác định số lượng người làm việc và ngạch
3.1.2.3. Số lượng người làm việc (biên chế) cụ thể của từng đơn vị

3.2. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho ủy ban nhân dân huyện Sơn Hà đến năm 2022

3.2.1. Phát triển đủ số lượng cho nhu cầu phát triển

3.2.2. Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn CB, CC để xây dựng quy hoạch và cơ cấu nhân sự.Chú trọng công tác hoạch định nguồn nhân lực, quy hoạch nguồn CB, CC

3.2.3. Tổ chức tuyển dụng, thu hút nhân lực

3.2.4. Không ngừng đào tạo nguồn nhân lực

3.2.5. Công tác đào tạo bổi dưỡng CB, CC

3.2.6. Thực hiện chế độ đãi ngộ, động viên, khích lệ người lao động

3.2.7. Tuyển dụng, bố trí và sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả

3.2.7.1. Công tác tuyển dụng
3.2.7.2. Công tác bố trí

3.2.8. Tăng cường công tác đánh giá, nhận xét CB, CC

3.2.9. Xây dựng hệ thống kiểm tra, giám sát CB, CC

3.3. Một số kiến nghị đối với huyện Sơn Hà

3.3.1. Kiến nghị với Tỉnh Quảng Ngãi

3.3.2. Kiến nghị với Nhà nước

3.4. Kết luận chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Toàn cảnh luận văn phát triển nguồn nhân lực UBND Sơn Hà

Bài viết này phân tích sâu sắc các khía cạnh cốt lõi của luận văn thạc sĩ quản lý công về chủ đề phát triển nguồn nhân lực tại UBND huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi. Đây là một đề tài nghiên cứu khoa học về nhân sự quan trọng, đặt trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và yêu cầu hiện đại hóa nền hành chính công. Nguồn lực con người, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức, được xác định là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Nghiên cứu này không chỉ hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị nhân sự trong khu vực công mà còn đi sâu vào việc đánh giá thực trạng, từ đó đề xuất các giải pháp mang tính chiến lược. Mục tiêu chính là xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức đủ năng lực, phẩm chất, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, góp phần đưa huyện Sơn Hà phát triển bền vững. Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính là chủ đạo, kết hợp phân tích dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo của UBND huyện và các tài liệu liên quan, nhằm mang lại cái nhìn khách quan và toàn diện nhất.

1.1. Lý do cấp thiết nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực công

Sự cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu thực tiễn. Huyện Sơn Hà, dù đã có nhiều nỗ lực, vẫn đối mặt với thách thức lớn về chất lượng nguồn nhân lực UBND cấp huyện. Đội ngũ cán bộ hiện tại về cơ cấu, số lượng và trình độ chuyên môn chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo tài liệu nghiên cứu, con người là "yếu tố then chốt cho sự thành công của quá trình CNH, HĐH đất nước". Do đó, việc đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực không chỉ là nhiệm vụ của Phòng Nội vụ huyện Sơn Hà mà còn là chiến lược sống còn để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy kinh tế và cải thiện đời sống người dân. Việc nghiên cứu một cách bài bản sẽ cung cấp luận cứ khoa học vững chắc cho việc hoạch định chính sách nhân sự trong dài hạn.

1.2. Mục tiêu và phạm vi của đề tài nghiên cứu khoa học

Mục tiêu tổng quát của luận văn là "đề xuất những giải pháp để phát triển nguồn nhân lực cho UBND huyện Sơn Hà". Cụ thể hơn, nghiên cứu tập trung vào ba nhiệm vụ chính: hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá đúng thực trạng công tác nhân sự giai đoạn 2014-2018, và xây dựng các giải pháp phát triển nguồn nhân lực công khả thi đến năm 2022. Đối tượng nghiên cứu là đội ngũ cán bộ, công chức đang làm việc tại các phòng ban chuyên môn thuộc UBND huyện. Phạm vi không gian được giới hạn trong địa bàn huyện Sơn Hà. Cách tiếp cận này đảm bảo tính tập trung và sâu sắc, giúp các giải pháp đề xuất ra có tính ứng dụng cao, giải quyết trực tiếp các vấn đề còn tồn tại trong công tác cán bộ tại huyện Sơn Hà, Quảng Ngãi, thay vì chỉ dừng lại ở mức độ lý thuyết chung chung.

II. Phân tích thực trạng nguồn nhân lực UBND huyện Sơn Hà

Để đưa ra giải pháp hiệu quả, việc phân tích sâu thực trạng nguồn nhân lực huyện Sơn Hà là bước đi tiên quyết. Chương 2 của luận văn đã thực hiện nhiệm vụ này một cách chi tiết, dựa trên số liệu thống kê cụ thể giai đoạn 2014-2018. Kết quả phân tích không chỉ dừng lại ở việc mô tả số lượng, cơ cấu mà còn đi sâu vào các khía cạnh chất lượng như trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, kỹ năng tin học, ngoại ngữ. Bức tranh tổng thể cho thấy bên cạnh những thành tựu nhất định, công tác phát triển nhân lực tại UBND huyện vẫn còn nhiều điểm nghẽn. Sự chênh lệch về trình độ giữa các phòng ban, tỷ lệ cán bộ có kỹ năng ngoại ngữ hạn chế, và công tác quy hoạch chưa thực sự đi trước một bước là những vấn đề nổi cộm. Việc nhìn thẳng vào những tồn tại này là cơ sở quan trọng để xác định đúng nguyên nhân và tìm ra hướng đi phù hợp, đảm bảo mọi giải pháp đều xuất phát từ thực tiễn và có khả năng giải quyết gốc rễ vấn đề.

2.1. Đánh giá số lượng và cơ cấu đội ngũ cán bộ công chức

Tính đến năm 2018, tổng biên chế quản lý nhà nước được giao là 135, trong khi biên chế sự nghiệp là 54. Con số thực tế tại thời điểm khảo sát là 184 biên chế, cho thấy có sự biến động. Về cơ cấu, luận văn chỉ ra rằng đội ngũ cán bộ, công chức tại UBND huyện Sơn Hà có cơ cấu tương đối hợp lý về độ tuổi và giới tính. Tuy nhiên, khi xét về cơ cấu trình độ, vẫn còn tồn tại sự mất cân đối. Chẳng hạn, số liệu từ Bảng 2.3 và 2.4 cho thấy dù trình độ chuyên môn đại học và sau đại học đã tăng lên, nhưng trình độ lý luận chính trị cao cấp và kỹ năng quản lý nhà nước chuyên sâu vẫn còn chiếm tỷ lệ khiêm tốn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tham mưu, hoạch định chính sách và tổ chức thực thi công vụ một cách chuyên nghiệp.

2.2. Hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực và công tác cán bộ

Đây là nút thắt lớn nhất được chỉ ra trong nghiên cứu. Chất lượng nguồn nhân lực UBND cấp huyện còn nhiều bất cập. Cụ thể, Bảng 2.5 và 2.6 của luận văn gốc cho thấy trình độ ngoại ngữ và tin học của một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập và chính phủ điện tử. Nhiều công chức dù có bằng cấp chuyên môn nhưng kỹ năng thực hành, xử lý tình huống và giao tiếp hành chính còn yếu. Công tác tuyển dụng, bố trí và sử dụng cán bộ đôi khi chưa thực sự dựa trên phân tích vị trí việc làm một cách khoa học. Tình trạng bố trí cán bộ không hoàn toàn phù hợp với chuyên môn được đào tạo vẫn còn tồn tại, gây lãng phí nguồn lực và làm giảm hiệu quả công việc chung.

2.3. Nguyên nhân khách quan và chủ quan của những tồn tại

Luận văn đã chỉ ra hai nhóm nguyên nhân chính. Về khách quan, Sơn Hà là một huyện miền núi còn nhiều khó khăn, ngân sách dành cho đào tạo còn hạn hẹp, cơ chế chính sách chung của nhà nước đôi khi chưa đủ hấp dẫn để thu hút nhân tài. Về chủ quan, nhận thức của một số lãnh đạo về tầm quan trọng của quản trị nhân sự trong cơ quan hành chính nhà nước chưa thực sự sâu sắc. Công tác quy hoạch và đào tạo và phát triển cán bộ công chức đôi khi còn mang tính hình thức, chưa gắn liền với nhu cầu thực tế. Việc đánh giá hiệu quả công việc công chức vẫn còn nể nang, chưa tạo ra động lực thực sự để mỗi cá nhân phấn đấu, hoàn thiện bản thân.

III. Giải pháp quy hoạch thu hút nguồn nhân lực tại Sơn Hà

Từ những phân tích về thực trạng, luận văn đề xuất nhóm giải pháp nền tảng nhằm giải quyết vấn đề từ gốc, đó là quy hoạch và thu hút nhân lực. Một chiến lược nhân sự bài bản phải bắt đầu từ việc xác định rõ nhu cầu trong tương lai và xây dựng kế hoạch để đáp ứng nhu cầu đó. Quy hoạch không chỉ là sắp xếp các chức danh hiện có, mà là một quá trình "động" và "mở", dự báo được các vị trí việc làm mới và chuẩn bị nguồn cán bộ kế cận. Song song với đó, việc xây dựng các chính sách thu hút nhân tài tại Sơn Hà là yếu tố sống còn. Trong bối cảnh cạnh tranh về nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng gay gắt, nếu không có cơ chế đãi ngộ và môi trường làm việc đủ hấp dẫn, huyện Sơn Hà sẽ khó giữ chân được người giỏi và thu hút được các chuyên gia từ nơi khác về cống hiến. Đây là hai trụ cột chính tạo tiền đề cho các giải pháp phát triển chuyên sâu hơn.

3.1. Hoàn thiện công tác hoạch định và quy hoạch cán bộ

Giải pháp cốt lõi là phải "chú trọng công tác hoạch định nguồn nhân lực, quy hoạch nguồn CB, CC". Điều này đòi hỏi Phòng Nội vụ huyện Sơn Hà cần tiến hành rà soát, phân tích và dự báo nhu cầu nhân lực cho từng phòng ban, đơn vị một cách khoa học. Quy hoạch phải gắn liền với đào tạo, đảm bảo mỗi cán bộ trong diện quy hoạch đều có lộ trình phát triển rõ ràng. Luận văn nhấn mạnh quy hoạch phải đảm bảo tính kế thừa, khắc phục tình trạng hẫng hụt khi có sự thay đổi về nhân sự. Cần xây dựng quy hoạch cho cả cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ chuyên môn, tạo nguồn nhân lực dồi dào và chất lượng cho hệ thống.

3.2. Đổi mới công tác tuyển dụng bố trí và sử dụng nhân sự

Quy trình tuyển dụng cần được công khai, minh bạch và cạnh tranh để chọn được người phù hợp nhất. Thay vì chỉ dựa vào bằng cấp, cần bổ sung các hình thức kiểm tra kỹ năng thực tế. Sau tuyển dụng, việc bố trí cán bộ phải tuân thủ nguyên tắc "vì việc đặt người", dựa trên năng lực và sở trường của cá nhân, gắn với vị trí việc làm đã được phân tích kỹ lưỡng. Luận văn cũng đề xuất cần thực hiện luân chuyển cán bộ một cách chủ động và có kế hoạch. Luân chuyển không chỉ giúp cán bộ có thêm kinh nghiệm thực tiễn mà còn là biện pháp để bồi dưỡng, thử thách và chuẩn bị cho các vị trí cao hơn, góp phần nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ.

IV. Phương pháp đào tạo và phát triển cán bộ công chức

Đầu tư vào đào tạo và phát triển cán bộ công chức chính là đầu tư cho tương lai. Đây là nhóm giải pháp trọng tâm được luận văn đề cập nhằm nâng cao trực tiếp chất lượng đội ngũ nhân sự. Việc đào tạo không thể dàn trải mà phải có mục tiêu, kế hoạch cụ thể, bám sát vào các điểm yếu đã được chỉ ra qua quá trình phân tích thực trạng. Nội dung đào tạo cần được cập nhật thường xuyên, không chỉ bao gồm kiến thức chuyên môn mà còn phải chú trọng phát triển các kỹ năng mềm như giao tiếp, xử lý khủng hoảng, làm việc nhóm và ứng dụng công nghệ thông tin. Hình thức đào tạo cũng cần đa dạng hóa, kết hợp giữa học tập tại trường lớp, đào tạo tại chỗ thông qua công việc, và khuyến khích tinh thần tự học, tự rèn luyện của mỗi cá nhân để tạo ra sự chuyển biến thực chất và bền vững.

4.1. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ qua đào tạo chuyên môn

Chương trình đào tạo phải được thiết kế dựa trên tiêu chuẩn của từng chức danh và ngạch công chức. Nội dung cần bao quát cả lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước, pháp luật và chuyên môn nghiệp vụ sâu. Theo luận văn, cần "chú ý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nguồn và cán bộ dự bị kế cận các chức danh lãnh đạo". Bên cạnh đó, cần tổ chức các lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới, đặc biệt là các quy định pháp luật và công nghệ quản lý hiện đại. Việc cử cán bộ đi học các chương trình đào tạo chất lượng cao cần được xem là một khoản đầu tư chiến lược, góp phần tạo ra một đội ngũ chuyên gia giỏi cho huyện.

4.2. Rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp gắn liền thực tiễn công vụ

Kiến thức lý thuyết phải đi đôi với thực hành. Kỹ năng nghề nghiệp chỉ có thể được hình thành và hoàn thiện thông qua quá trình làm việc thực tế. Do đó, cần tăng cường hình thức đào tạo tại chỗ, kèm cặp theo mô hình "người đi trước hướng dẫn người đi sau". Tổ chức các buổi hội thảo, diễn đàn trao đổi kinh nghiệm xử lý các tình huống thực tiễn trong quản lý. Khuyến khích cán bộ tham gia giải quyết các vấn đề phức tạp, qua đó rèn luyện bản lĩnh và khả năng tư duy độc lập. Đây là cách hiệu quả nhất để biến kiến thức sách vở thành năng lực công tác thực thụ, giúp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ một cách toàn diện.

V. Cách cải thiện đánh giá và chính sách đãi ngộ công chức

Để các giải pháp phát triển nhân lực phát huy hiệu quả, cần có một hệ thống đánh giá công bằng và chính sách đãi ngộ tương xứng. Đây là hai yếu tố tạo động lực mạnh mẽ nhất, quyết định đến thái độ, sự nhiệt huyết và lòng trung thành của cán bộ, công chức. Nếu công tác đánh giá còn hình thức, nể nang, sẽ không thể phân loại được cán bộ và không có cơ sở để quy hoạch, cất nhắc người tài. Tương tự, nếu chính sách đãi ngộ không hợp lý, không chỉ khó thu hút nhân tài mà còn dễ dẫn đến tình trạng "chảy máu chất xám". Do đó, việc đổi mới hai khâu này là yêu cầu cấp bách, nhằm xây dựng một môi trường làm việc chuyên nghiệp, nơi mọi sự cống hiến đều được ghi nhận và tưởng thưởng xứng đáng, thúc đẩy văn hóa làm việc hiệu quả trong toàn hệ thống.

5.1. Đổi mới công tác đánh giá hiệu quả công việc công chức

Cần xây dựng một hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả công việc công chức rõ ràng, cụ thể và có thể lượng hóa được. Việc đánh giá phải dựa trên kết quả công việc thực tế, mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, thay vì chỉ dựa vào các tiêu chí chung chung. Luận văn đề nghị quy trình đánh giá phải đảm bảo tính khách quan, dân chủ, kết hợp giữa tự đánh giá của cá nhân, nhận xét của tập thể và quyết định của người đứng đầu. Kết quả đánh giá phải được công khai và sử dụng làm căn cứ chính cho việc khen thưởng, kỷ luật, quy hoạch, bổ nhiệm, qua đó tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh và động lực phấn đấu không ngừng.

5.2. Xây dựng chế độ đãi ngộ khen thưởng tạo động lực

Chính sách đãi ngộ không chỉ bao gồm tiền lương và phụ cấp. Nó là một tổ hợp các yếu tố vật chất và tinh thần. Cần nghiên cứu cải cách chính sách tiền lương theo vị trí việc làm và hiệu quả công tác. Bên cạnh đó, cần đặc biệt quan tâm đến các chế độ phúc lợi khác như bảo hiểm, hỗ trợ nhà ở, tạo điều kiện học tập nâng cao trình độ. Xây dựng một môi trường làm việc văn minh, thân thiện, nơi cán bộ được tôn trọng và có cơ hội phát triển. Công tác khen thưởng phải kịp thời, đúng người, đúng việc, tạo hiệu ứng lan tỏa những tấm gương điển hình, qua đó thúc đẩy toàn bộ đội ngũ cùng nỗ lực vì mục tiêu phát triển chung của địa phương.

01/10/2025
Luận văn thạc sĩ phát triển nguồn nhân lực tại ubnd huyện sơn hà tỉnh quảng ngãi

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực với đối tượng là cán bộ công chức. Chương 2: Thực trạng công tác phát triển nguồn nhân lực của UBND huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi. Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho UBND huyện Sơn Hà đến năm 2022. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VỚI ĐỐI TƯỢNG LÀ CÁN BỘ CÔNG CHỨC 1.

Một số vấn đề chung về cán bộ, công chức 1. Khái niệm về cán bộ, công chức Các nước khác nhau thì khái niệm về cán bộ, công chức (CB, CC) cũng khác nhau, đa số các nước đều giới hạn CB, CC trong phạm vi bộ máy hành chính nhà nước (Chính phủ và cấp địa phương). Ở nước ta, phù hợp với thể chế chính trị và tổ chức bộ máy Đảng, nhà nước, đoàn thể, chúng ta dùng khái niệm “cán bộ, công chức”. Theo Pháp lệnh CB, CC ban hành ngày 09/03/1998 và các văn bản khác của Chính phủ thì “CB, CC là công dân Việt Nam trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm: - Những người do bầu cử để đảm nhận chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội.

- Những người làm việc trong tổ chức chính trị xã hội và một số tổ chức xã hội nghề nghiệp, được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc phân công làm nhiệm vụ thường xuyên. - Những người làm việc trong cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong biên chế, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn và được xếp vào một ngạch. - Các thẩm phán, kiểm sát viên được bổ nhiệm. - Những người làm việc trong các cơ quan thuộc quân đội công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao làm nhiệm vụ thường xuyên trong biên chế.

- Thành viên hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó giám đốc, kế toán trưởng trong các tổ chức nhà nước” [1] Theo Luật Cán bộ công chức (Luật số 22/2008/QH12, ngày 13/11/2008) của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Cán bộ là người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ 6 trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [2]. “Công chức là người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội” [2] 1. Chức năng của cán bộ, công chức “Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước.

Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao. Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và ngƣời thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định.

Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật” [2] 1. Phân loại cán bộ, công chức “Mỗi đối tượng CB, CC khác nhau về chức năng, nhiệm vụ, tiêu chuẩn, trình độ chuyên môn, do đó nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cũng khác nhau. Việc phân loại CB, CC cũng là một cơ sở để xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nhằm đáp ứng đúng các nhu cầu đào tạo đó” [2].

“Công chức lãnh đạo, quản lý là những người được bầu cử hoặc bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, chỉ đạo, có thẩm quyền pháp lý và được sử dụng một cách đầy đủ thẩm quyền ấy trong quá trình quản lý, có nhiệm vụ hoạch định 7 chủ trương công tác và điều khiển quá trình thực hiện ở một cấp độ nào đó nhưng ảnh hưởng lớn đến chất lượng công việc. Đối tượng này được quy hoạch, đào tạo căn bản cả về lý luận chính trị lẫn chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành, có khả năng tổng hợp và khái quát cao, đủ năng lực đảm nhiệm chức trách, nhiệm vụ được giao theo chuẩn quy định” [2]. “Công chức chuyên môn là những người đã được đào tạo, bồi dưỡng ở các trường lớp, có khả năng chuyên môn, được tuyển dụng, đảm nhận các chức vụ chuyên môn, nghiệp vụ trong cơ quan hành chính Nhà nước. Có trách nhiệm thực hiện những hoạt động nghiệp vụ chuyên ngành, họ được quy hoạch đào tạo theo tiêu chuẩn kiến thức nghiệp vụ với hai phân nhánh lý thuyết hoặc thực hành; có số lượng đông và hoạt động của họ có tính chất quyết định đến việc hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan và đơn vị” [2].

Phẩm chất đạo đức của cán bộ, công chức Đây là một tiêu chuẩn quan trọng đối với CB,CC. Họ phải là người hết lòng trong công việc, vì sự nghiệp phục vụ nhà nước, là công bộc của nhân dân, có đạo đức tốt, có tư cách đúng đắn trong thực thi công vụ. Người CB, CC trước tiên phải có một lịch sử bản thân rõ ràng, có một lý lịch phản ánh mối quan hệ gia đình và xã hội. Cán bộ phải biết đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, lấy quyền lợi của nhân dân làm mục tiêu quan trọng nhất trong công việc: “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”.

Điều quan trọng để CB, CC được dân tin yêu, ủng hộ không đơn thuần vì danh nghĩa mà chính là ở chỗ CB, CC phải có đạo đức, trung thực, thực sự gương mẫu trước dân, lo trước dân, vui sau dân, hết lòng chăm lo cho cuộc sống của dân. Tinh thần phục vụ nhân dân của CB, CC phải thể hiện được trong tác phong làm việc, muốn làm tốt việc lãnh đạo, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Một số khái niệm liên quan đến phát triển nguồn nhân lực là cán bộ công chức 1. Khái niệm về nguồn nhân lực của cơ quan hành chính Nhà nước Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân [3,tr27].

Theo khái niệm nguồn nhân lực thì có một số người được tính vào nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động. Đó là những người trong tuổi lao động không có việc làm, nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm; những người đang đi học, những người đang làm nội trợ trong gia đình và những người thuộc tính khác (nghỉ hưu trước tuổi quy định). Họ có khả năng lao động, nhưng lại không muốn lao động, hoặc không có khả năng lao động. Cần biết là trong nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ những người đang tham gia lao động là trực tiếp góp phần tạo ra thu nhập của xã hội và những người đang trong độ tuổi lao động nhưng lại không trực tiếp góp phần tạo ra thu nhập cho xã hội.

Nhân lực chính là lao động con người mà không máy móc nào thay thế được. Con người là tài sản quan trọng nhất mà một tổ chức có. Sự thành công của tổ chức phụ thuộc vào tính hiệu quả của cách “quản lý con người” bao gồm cả cách quản lý chính bản thân mình, quản lý nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp như thế nào. Nguồn nhân lực hành chính nhà nước là hệ thống cán bộ công chức hành chính.

Có thể hiểu: nguồn nhân lực hành chính là tổng thể các tiềm năng lao động của những ngƣời làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước. Tiềm năng lao động của con người bào gồm toàn bộ sức lao động (vốn kiến thức, kỹ năng làm việc, trình độ chuyên môn, đặc điểm tâm lý, các mối 9 quan hệ…) của con người sử dụng trong quá trình làm việc. Tiềm năng lao động trở thành khả năng hiện thực nếu nó được sử dụng và quản lý đúng đắn. Ở nước ta hiện nay, nguồn nhân lực hành chính bao gồm toàn bộ tiềm năng lao động của các con người ( gọi tên gọi là cán bộ công chức, viên chức) được nhà nước sử dụng để thực thi chức năng quản lý hành chính Nhà nước.

Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động [3,tr58]. Trước hết, phát triển nguồn nhân lực chính là toàn bộ những hoạt động tổng hợp được tổ chức bởi một đơn vị, do đơn vị cung cấp cho cán bộ, công chức. Các hoạt động đó có thể được cung cấp trong vài giờ, vài ngày hoặc thậm chí tới vài năm, tùy vào mục tiêu học tập và nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của họ. Như vậy, xét về nội dung, phát triển nguồn nhân lực bao gồm ba loại hoạt động là: Giáo dục, đào tạo và phát triển.

+ Giáo dục: Được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới thích hợp hơn trong tương lai. + Đào tạo (hay còn gọi là đào tạo kỹ năng): Được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho cán bộ, công chức có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho cán bộ, công chức nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của cán bộ, công chức để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ