Luận văn ThS Lê Đạt Tới: Phát triển nguồn nhân lực huyện Long Thành

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực huyện Long Thành, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2013

94
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh chiến lược phát triển nguồn nhân lực H

Việc phát triển nguồn nhân lực H. Long Thành là một nhiệm vụ chiến lược, đóng vai trò nền tảng cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững. Huyện Long Thành, với vị trí là trung tâm của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đang đứng trước những cơ hội và thách thức chưa từng có. Đặc biệt, sự xuất hiện của dự án sân bay quốc tế Long Thành không chỉ thay đổi bộ mặt kinh tế mà còn tạo ra một sức ép khổng lồ lên thị trường lao động. Nhu cầu về một nguồn nhân lực chất lượng cao, có kỹ năng và trình độ chuyên môn, trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Do đó, việc xây dựng một chiến lược phát triển nguồn nhân lực bài bản, khoa học là yếu tố quyết định sự thành công của địa phương. Chiến lược này cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng giáo dục, đẩy mạnh đào tạo nghề và xây dựng các chính sách hiệu quả để thu hút và giữ chân nhân tài. Các doanh nghiệp tại Long ThànhUBND huyện Long Thành phải phối hợp chặt chẽ để tạo ra một hệ sinh thái lao động năng động, đáp ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mục tiêu không chỉ là giải quyết bài toán việc làm trước mắt mà còn là xây dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế xã hội Long Thành trong dài hạn, biến thách thức về lao động thành lợi thế cạnh tranh.

1.1. Tầm quan trọng của nguồn lao động địa phương hiện nay

Nguồn lao động địa phương là tài sản quý giá nhất, quyết định tốc độ và chất lượng phát triển của huyện Long Thành. Lực lượng này không chỉ cung cấp sức lao động cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh mà còn là yếu tố cốt lõi hình thành nên văn hóa doanh nghiệp và sự ổn định xã hội. Việc ưu tiên phát triển nguồn nhân lực tại chỗ giúp giảm thiểu chi phí tuyển dụng, tạo sự gắn kết lâu dài giữa người lao động và doanh nghiệp. Hơn nữa, một lực lượng lao động có tay nghề cao sẽ nâng cao năng suất, cải thiện năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tại Long Thành trên thị trường lao động Đồng Nai. Theo luận văn của tác giả Lê Đạt Tới, việc phát huy tối đa tiềm năng của con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.

1.2. Tác động từ siêu dự án sân bay quốc tế Long Thành

Dự án sân bay quốc tế Long Thành là một động lực phát triển kinh tế mạnh mẽ, nhưng cũng đặt ra yêu cầu rất lớn về nhân lực. Dự án này sẽ thu hút hàng chục nghìn lao động trong các lĩnh vực xây dựng, dịch vụ, logistics, và hàng không. Điều này tạo ra một cuộc cạnh tranh gay gắt về lao động, đòi hỏi một sự chuẩn bị kỹ lưỡng về đào tạo và phát triển nhân lực. Nếu không có kế hoạch phù hợp, Long Thành có thể đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động có kỹ năng, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Sự dịch chuyển lao động từ các vùng khác đến cũng tạo ra áp lực về hạ tầng xã hội. Do đó, việc quy hoạch và đào tạo nguồn nhân lực phải đi trước một bước để đón đầu cơ hội này.

II. Phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực Long Thành

Phân tích thực trạng nguồn nhân lực huyện Long Thành cho thấy nhiều bất cập và thách thức cần được giải quyết. Mặc dù có lợi thế về dân số trong độ tuổi lao động dồi dào, chất lượng của nguồn nhân lực lại chưa tương xứng với tiềm năng. Theo số liệu từ luận văn của Lê Đạt Tới, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo vẫn chiếm một tỷ trọng lớn, đặc biệt trong khu vực nông nghiệp. Cụ thể, đến năm 2010, tỷ trọng lao động làm việc chưa qua đào tạo còn khoảng 60%. Điều này tạo ra một rào cản lớn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp và dịch vụ. Chất lượng nguồn nhân lực Long Thành còn thể hiện qua trình độ học vấn. Báo cáo của Sở Giáo dục và Đào tạo năm 2012 chỉ ra tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết tại Long Thành (86,0%) thấp hơn mức trung bình của tỉnh Đồng Nai (93,5%). Sự chênh lệch này cho thấy hệ thống giáo dục cần được quan tâm đầu tư hơn nữa. Bên cạnh đó, cơ cấu lao động theo ngành cũng chưa hợp lý, với tỷ trọng lao động nông nghiệp còn cao, trong khi các ngành công nghiệp, dịch vụ lại thiếu hụt nhân lực có tay nghề. Đây là những thách thức trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng thu hút đầu tư và phát triển kinh tế xã hội Long Thành.

2.1. Đánh giá trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật

Trình độ học vấn và chuyên môn là thước đo quan trọng về chất lượng nguồn nhân lực Long Thành. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ lao động có trình độ từ trung cấp nghề trở lên còn khá thấp. Mặc dù huyện đã đạt được những thành tựu nhất định trong phổ cập giáo dục tiểu học và THCS, nhưng tỷ lệ tốt nghiệp THPT và theo học các bậc cao hơn vẫn còn hạn chế. Luận văn gốc trích dẫn: "Tỷ lệ dân số tốt nghiệp THCS chỉ đạt 12,1% và THPT là 19,4%, đều thấp hơn đáng kể so với mức trung bình của tỉnh." Tình trạng này dẫn đến việc phần lớn lao động tại các khu công nghiệp Long Thành là lao động phổ thông, có kỹ năng hạn chế, khó tiếp cận với công nghệ hiện đại và có thu nhập thấp. Việc thiếu hụt lao động kỹ thuật cao đang là điểm nghẽn lớn cho sự phát triển của các ngành công nghiệp mũi nhọn.

2.2. Bất cập trong cơ cấu và sự dịch chuyển lao động

Cơ cấu lao động theo ngành tại Long Thành vẫn còn mang nặng tính nông nghiệp. Giai đoạn 2001-2010 chứng kiến sự chuyển dịch chậm, tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm từ 73,2% xuống còn 53%, trong khi công nghiệp-xây dựng chỉ tăng lên 14,3%. Sự dịch chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị và vào các khu công nghiệp diễn ra mạnh mẽ nhưng chủ yếu là tự phát. Người lao động thường thiếu thông tin về thị trường, kỹ năng cần thiết và phải chấp nhận những công việc bấp bênh. Vấn đề này cho thấy công tác dự báo nhu cầu và định hướng phát triển nhân lực chưa thực sự hiệu quả. Để khắc phục, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp.

III. Top giải pháp nâng cao chất lượng lao động tại Long Thành

Để giải quyết những thách thức hiện tại, cần triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng lao động. Trọng tâm của các giải pháp này là tập trung vào đào tạo và phát triển nhân lực một cách toàn diện. Thứ nhất, cần quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đầu tư nâng cấp trường Trung cấp nghề Long Thành – Nhơn Trạch thành trường Cao đẳng nghề đa ngành, đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Thứ hai, đa dạng hóa các hình thức đào tạo, từ chính quy đến tại chức, liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp. Mô hình này giúp sinh viên tiếp cận thực tế, đồng thời doanh nghiệp có được nguồn lao động phù hợp ngay sau khi tuyển dụng. Thứ ba, cần xây dựng các chương trình đào tạo nghề cho người lao động nông thôn, giúp họ chuyển đổi nghề nghiệp một cách bền vững. Cuối cùng, việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, cụ thể là vai trò của UBND huyện Long Thành, trong việc kết nối cung - cầu lao động, tổ chức các sàn giao dịch việc làm và phổ biến thông tin thị trường là vô cùng quan trọng. Các giải pháp này khi được thực hiện nhất quán sẽ tạo ra một cú hích mạnh mẽ cho chất lượng nguồn nhân lực Long Thành.

3.1. Đẩy mạnh đào tạo nghề cho người lao động địa phương

Chương trình đào tạo nghề cho người lao động phải được thiết kế linh hoạt và sát với nhu cầu của doanh nghiệp tại Long Thành. Cần tập trung vào các ngành nghề mà huyện có lợi thế như logistics, dịch vụ sân bay, công nghiệp phụ trợ, và nông nghiệp công nghệ cao. Thay vì đào tạo dàn trải, các trung tâm dạy nghề nên hợp tác chặt chẽ với các khu công nghiệp để xây dựng chương trình giảng dạy. Luận văn đề xuất cần "tăng cường nâng cao chất lượng dạy nghề, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp". Hỗ trợ tài chính cho người lao động thuộc diện chính sách, hộ nghèo tham gia học nghề cũng là một biện pháp cần thiết để đảm bảo công bằng xã hội và tận dụng tối đa nguồn lao động địa phương.

3.2. Cải thiện hệ thống giáo dục và hướng nghiệp phổ thông

Chất lượng giáo dục phổ thông là nền tảng cho việc phát triển nguồn nhân lực sau này. Cần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đầu tư cơ sở vật chất cho các trường học, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa. Công tác hướng nghiệp phải được chú trọng ngay từ bậc THCS và THPT. Học sinh cần được cung cấp thông tin đầy đủ về thị trường lao động Đồng Nai, về nhu cầu của các ngành nghề trong tương lai để có lựa chọn phù hợp. Việc này giúp giảm thiểu tình trạng học sinh chọn sai ngành, dẫn đến lãng phí thời gian và nguồn lực xã hội, đồng thời giúp định hình cơ cấu lao động theo ngành một cách hợp lý hơn.

IV. Bí quyết xây dựng chính sách thu hút nhân tài cho Long Thành

Bên cạnh việc đào tạo tại chỗ, việc xây dựng chính sách thu hút nhân tài là một yếu tố sống còn để Long Thành có được nguồn nhân lực chất lượng cao. Một chính sách hiệu quả không chỉ dừng lại ở mức lương thưởng hấp dẫn. Nó cần bao gồm một hệ sinh thái toàn diện, từ môi trường làm việc, cơ hội thăng tiến đến các phúc lợi về nhà ở, y tế và giáo dục cho gia đình người lao động. Kinh nghiệm từ TP. Biên Hòa cho thấy, việc "tuyển dụng, bố trí, sử dụng không phân biệt quốc tịch, tôn giáo, hộ khẩu" và "được ưu tiên đề bạt vào những chức vụ quan trọng" là những yếu tố then chốt. UBND huyện Long Thành cần ban hành các cơ chế đặc thù, ví dụ như hỗ trợ chi phí mua nhà, ưu tiên cho con em chuyên gia vào học các trường chất lượng cao. Đồng thời, việc cải cách hành chính, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng cũng là một cách gián tiếp để thu hút các chuyên gia và nhà quản lý giỏi đến làm việc và cống hiến lâu dài, góp phần vào sự nghiệp quản trị nhân sự tại Đồng Nai.

4.1. Hoàn thiện chính sách đãi ngộ và môi trường làm việc

Chính sách thu hút nhân tài phải bắt đầu từ việc xây dựng chế độ đãi ngộ cạnh tranh. Các doanh nghiệp tại Long Thành cần nghiên cứu và áp dụng các mô hình lương thưởng theo hiệu quả công việc, kèm theo các gói phúc lợi hấp dẫn như bảo hiểm sức khỏe cao cấp, hỗ trợ đi lại, và các chương trình đào tạo nâng cao. Bên cạnh đó, việc xây dựng một văn hóa doanh nghiệp chuyên nghiệp, cởi mở, tôn trọng sự sáng tạo sẽ là yếu tố giữ chân nhân tài hiệu quả hơn cả vật chất. Môi trường làm việc an toàn, thân thiện và có lộ trình phát triển rõ ràng sẽ tạo động lực để người lao động gắn bó và cống hiến.

4.2. Vai trò của chính quyền trong việc tạo lập hệ sinh thái

Chính quyền địa phương đóng vai trò kiến tạo. UBND huyện Long Thành cần quy hoạch và đầu tư xây dựng các khu nhà ở xã hội, nhà ở cho chuyên gia, các tiện ích công cộng như trường học, bệnh viện, khu vui chơi giải trí. Theo đề xuất trong luận văn, việc giải quyết tốt vấn đề nhà ở sẽ "góp phần ổn định cuộc sống để giúp họ yên tâm lao động sản xuất". Ngoài ra, chính quyền cần là cầu nối giữa các chuyên gia, nhà khoa học với các doanh nghiệp, tạo ra các diễn đàn trao đổi, hợp tác để phát huy tối đa năng lực của nguồn nhân lực chất lượng cao.

V. Định hướng phát triển nguồn nhân lực Long Thành tới 2030

Định hướng phát triển nhân lực cho Huyện Long Thành đến năm 2030 phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội tổng thể, đặc biệt là sự vận hành của sân bay quốc tế. Mục tiêu cốt lõi là xây dựng một nguồn nhân lực chất lượng cao, có cơ cấu hợp lý, đủ sức cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập. Định hướng này tập trung vào ba trụ cột chính. Một là, ưu tiên phát triển các ngành nghề phục vụ trực tiếp cho cụm cảng hàng không và các khu công nghiệp công nghệ cao. Hai là, đẩy mạnh xã hội hóa công tác đào tạo, khuyến khích các tổ chức trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực giáo dục tại Long Thành. Ba là, xây dựng hệ thống thông tin và dự báo thị trường lao động hiện đại, giúp kết nối hiệu quả giữa người lao động, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Tầm nhìn đến năm 2030 là biến Long Thành thành một trung tâm đào tạo và cung ứng nhân lực không chỉ cho tỉnh Đồng Nai mà còn cho cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, sẵn sàng đón nhận những cơ hội và thách thức từ quá trình dịch chuyển lao động toàn cầu.

5.1. Xây dựng nguồn nhân lực bền vững đáp ứng hội nhập

Để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao một cách bền vững, chiến lược không thể chỉ tập trung vào đào tạo kỹ năng cứng. Cần chú trọng phát triển các kỹ năng mềm như ngoại ngữ, giao tiếp, làm việc nhóm và khả năng thích ứng với thay đổi. Quá trình quản trị nhân sự tại Đồng Nai nói chung và Long Thành nói riêng cần được hiện đại hóa, áp dụng công nghệ số vào tuyển dụng, đào tạo và đánh giá nhân viên. Hơn nữa, việc xây dựng một xã hội học tập, nơi mọi người dân đều có cơ hội học tập suốt đời, sẽ là nền tảng vững chắc nhất để nguồn nhân lực của huyện luôn được cập nhật và không bị tụt hậu.

5.2. Dự báo xu hướng và nhu cầu lao động trong tương lai

Công tác dự báo nhu cầu lao động tại các khu công nghiệp Long Thành và các ngành dịch vụ liên quan đến sân bay là cực kỳ quan trọng. Cần thành lập một bộ phận chuyên trách, phối hợp giữa Sở Lao động, Ban quản lý các khu công nghiệp và các hiệp hội doanh nghiệp để thực hiện các khảo sát định kỳ. Dựa trên các dự báo này, hệ thống giáo dục có thể điều chỉnh chương trình và chỉ tiêu tuyển sinh cho phù hợp. Việc dự báo sớm các xu hướng dịch chuyển lao động cũng giúp chính quyền có kế hoạch chuẩn bị về hạ tầng xã hội, tránh gây áp lực đột ngột lên hệ thống an sinh.

03/10/2025
Luận văn thạc sĩ phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện long thành

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm và các bộ phận cấu thành nguồn nhân lực 1.1 Các Khái niệm về nguồn nhân lực Nhân lực Là sức lực con người nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động. N guồ n nhâ n lực Thuật ngữ nguồn nhân lực (NNL) xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi có sự thay đổi về căn bản các hình thức quản lý, sử dụng con người trong sản xuất, kinh doanh.

Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa bao gồm “kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nổ lực hay bất cứ đặc điểm nào khác tạo giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cho tổ chức của những người lao động” [37, tr5]. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa về nguồn nhân lực: Theo Liên Hợp Quốc thì “ Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”; còn theo Tổ chức Lao động Quốc tế thì “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động”. Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng: Nguồn là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Theo nghĩa hẹp: Nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế- xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.

6 Nói đến nguồn nhân lực thì có nhiều cách tiếp cận khác nhau, với mỗi cách tiếp cận nêu ra đều có ý nghĩa nhất định để giúp các nhà hoạch định các chính sách quản lý và phát triển nguồn nhân lực tìm ra biện pháp thích hợp. Nếu đứng về phương diện xã hội thì nguồn nhân lực là tổng thể tìm năng lao động của một quốc gia hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị ở các mức độ khác nhau, những người lao động có kỹ năng sẵn sàng tham gia vào một công việc nào đó bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của chuyển dịch lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nguồn nhân lực là nguồn lực của con người. Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh.

Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác biệt cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con người, với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định. Trong những năm gần đây, các nhà khoa học ở Việt Nam cũng đang cố gắng đi tìm một định nghĩa chung thống nhất cho thuật ngữ nguồn nhân lực.

Theo Tạ Ngọc Hải, Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của các tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới”. Với cách hiểu này thì nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của tổ chức. Tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị: Nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước[40, tr45-48] Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực 7 khác với các nguồn lực khác là do chính bản chất của con người.

Khi nói đến nguồn nhân lực, người ta bàn đến trình độ, cơ cấu, sự đáp ứng với yêu cầu của thị trường lao động. Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh trong trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động. Họ có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với hoạt động của các cán bộ quản lý. Hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh.

Trên cơ sở đó, một số nhà khoa học Việt Nam đã xác định nguồn nhân lực hay nguồn lực con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ. Trong đó lực lượng lao động được xác định là người lao động đang làm việc và người trong độ tuổi lao động có nhu cầu nhưng không có việc làm (người thất nghiệp). Lao động dự trữ bao gồm học sinh trong độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động nhưng không có nhu cầu lao động. Nguồn nhân lực là toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình mình hoặc chưa có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (những người nghỉ việc hoặc hưu trước tuổi theo quy định của bộ luật lao động).

Nguồn nhân lực là tiềm năng của lao động trong thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng, đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế- xã hội [36, tr153-187]. Khái niệm về nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế phát triển từ những năm giữa thế kỷ XX, với ý nghĩa là nguồn lực con người. Thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò của yếu tố con người trong quá trình phát triển. Nội hàm nguồn nhân lực không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lượng mà còn chứa đựng các hàm ý rộng hơn.

Trước đây, nghiên cứu về nguồn lực con người thường nhấn mạnh đến chất lượng và vai trò của nó trong phát triển kinh tế xã hội. Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, con người được coi là một phương tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững, thậm chí con người được coi là một nguồn vốn đặc biệt cho sự phát triển nguồn nhân lực. Về phương diện này, Liên Hợp Quốc cho rằng nguồn lực con người là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực con người có quan hệ tới sự 8 phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Ngày nay, nguồn nhân lực còn bao hàm khía cạnh về số lượng, không chỉ những người trong độ tuổi mà còn bao gồm cả những người ngoài độ tuổi lao động.

Ở nước ta, khái niệm nguồn nhân lực sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới. Điều này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực. Theo Giáo sư-Viện sĩ Phạm Minh Hạc, nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất) [ 33,tr45]. Như vậy, nguồn nhân lực không chỉ bao hàm số lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai.

Từ những sự phân tích trên, ở dạng khái quát nhất, có hiểu nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. Phát triển nguồn nhân lực Theo UNESC, phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước. Quan điểm này gắn phát triển nguồn nhân lực với phát triển sản xuất; do đó, phát triển nguồn nhân lực giới hạn trong phạm vi phát triển kỹ năng lao động và thích ứng với yêu cầu về việc làm.

Còn theo ILO, phát triển nguồn nhân lực là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề và phát triển năng lực, sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả cũng như thoã mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân hay phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứmg tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế -xã hội. Với cách tiếp cận trên, phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực,trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hoá; truyền thống lịch sử…Do đó, phát triển nguồn nhân lực đồng nghĩa với qúa trình nâng cao năng lực xã hội và tính năng động xã hội của nguồn nhân lực về mọi mặt; thể lực, trí lực, nhân cách, đồng thời phân bố, sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất năng lực đó để phát triển đất nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ