CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 1. Khái niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 1. Khái niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân [3,tr27].
Theo khái niệm nguồn nhân lực thì có một số người được tính vào nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động. Đó là những người trong tuổi lao động không có việc làm, nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm; những người đang đi học, những người đang làm nội trợ trong gia đình và những người thuộc tính khác (nghỉ hưu trước tuổi quy định). Họ có khả năng lao động, nhưng lại không muốn lao động, hoặc không có khả năng lao động. Cần biết là trong nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ những người đang tham gia lao động là trực tiếp góp phần tạo ra thu nhập của xã hội và những người đang trong độ tuổi lao động nhưng lại không trực tiếp góp phần tạo ra thu nhập cho xã hội.
Nhân lực chính là lao động con người mà không máy móc nào thay thế được. Con người là tài sản quan trọng nhất mà một tổ chức có. Sự thành công của tổ chức phụ thuộc vào tính hiệu quả của cách “quản lý con người” bao gồm cả cách quản lý chính bản thân mình, quản lý nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp như thế nào. 8 Cung cách quản lý, môi trường làm việc mà Tổ chức đem lại cho nhân viên của mình và cách truyền đạt những giá trị và mục đích sẽ quyết định sự thành công của bạn cũng như thành công của tổ chức đó.
Để đạt được mục tiêu và thực hiện các kế hoạch chiến lược cần phải liên kết chặt chẽ các chính sách phát triển nguồn nhân lực và các thủ tục với mục tiêu hoạt động. Chẳng hạn cần biết rõ khi nào và tại sao phải tuyển dụng nhân viên, chúng ta mong đợi những gì ở họ, Tổ chức sẽ khen thưởng hoặc kỷ luật nhân viên thế nào để họ phải đạt được các yêu cầu mục đích của chiến lược hoạt động. Các tổ chức cần phải có trách nhiệm không ngừng chỉ rõ và truyền đạt những mục tiêu hoạt động cho tất cả các nhân viên trong tổ chức và cũng phải tạo điều kiện để cán bộ chuyên môn và nhân viên làm việc vì những mục tiêu này bằng cách xây dựng những hệ thống trong đơn vị: quy tắc làm việc, hệ thống lương bổng, phương pháp đánh giá hiệu quả làm việc, biện pháp khen thưởng và kỷ luật. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động [3,tr58].
Trước hết, phát triển nguồn nhân lực chính là toàn bộ những hoạt động tổng hợp được tổ chức bởi một đơn vị, do đơn vị cung cấp cho cán bộ, công chức. Các hoạt động đó có thể được cung cấp trong vài giờ, vài ngày hoặc thậm chí tới vài năm, tùy vào mục tiêu học tập và nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của họ. Như vậy, xét về nội dung, phát triển nguồn nhân lực bao gồm ba loại hoạt động là: Giáo dục, đào tạo và phát triển. 9 + Giáo dục: Được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới thích hợp hơn trong tương lai.
+ Đào tạo (hay còn gọi là đào tạo kỹ năng): Được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho cán bộ, công chức có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho cán bộ, công chức nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của cán bộ, công chức để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn. + Phát triển: Là các hoạt động học tập vươn xa ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của cán bộ, công chức, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức đó. Vai trò của phát triển nguồn nhân lực Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên” đặc biệt, một nguồn lực quan trọng của sự phát triển.
Chính vì lẽ đó việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực đang chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố đảm bảo chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của đất nước. Việc đầu tư để phát triển nguồn lực con người là đầu tư chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững. Với mục tiêu chính của công tác phát triển nguồn nhân lực là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của doanh nghiệp thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, trình độ tay nghề và chuyên môn nghiệp vụ được nâng cao và thực hiện nhiệm vụ được giao được tự giác, độc lập hơn, với thái độ làm việc tốt hơn, cũng như việc nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc dự kiến thực hiện trong tương lai, thì tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực trong các tổ chức (doanh nghiệp hay các đơn vị hành 10 chính nhà nước) hiện nay cần được quan tâm đúng mức hơn.
Trong đó có hai lý do chủ yếu sau: - Nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và phát triển của người lao động: Những người lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tay nghề cao sẽ có nhiều cơ hội hơn trong người lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tay nghề thấp trong doanh nghiệp. Cụ thể, phát triển nguồn nhân lực giúp cho người lao động: + Tạo ra được sự gắn bó giữa người lao động và doanh nghiệp + Tạo ra tính chuyên nghiệp của người lao động. + Tạo ra sự thích ứng giữa người lao động và công việc hiện tại cũng như tương lai. + Đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng phát triển của người lao động.
+ Tạo cho người lao động cách nhìn, cách tư duy mới trong công việc của họ là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của người lao động trong công việc” - Để đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của tổ chức Phát triển nhân lực là những giải pháp có tính chiến lược tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, thúc đẩy nâng cao năng suất lao động, hiệu quả hơn trong thực hiện công việc, nâng cao tính ổn định và năng động của doanh nghiệp; duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo điều kiện để sử dụng khoa học tiến bộ khoa học kỹ thuật và quản lý vào doanh nghiệp. Cụ thể phát triển nguồn nhân lực giúp cho doanh nghiệp: + Nâng cao năng suất lao động, hiệu quả thực hiện công việc. + Nâng cao chất lượng của thực hiện công việc. + Giảm bớt sự giám sát vì người lao động được đào tạo là người có khả năng tự giám sát.
+ Nâng cao tính ổn định và năng động của doanh nghiệp. + Duy trì và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực. 11 + Tạo điều kiện cho áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và quản lý vào doanh nghiệp. + Tạo ra được lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khái quát về nguồn nhân lực trong các đơn vị hành chính sự nghiệp Cán bộ, công chức thường được hiểu là những người làm việc cho Nhà nước. Tuy nhiên phạm vi đối tượng ai là cán bộ, công chức không hoàn toàn giống nhau giữa các nước. Điều đó còn tùy thuộc vào quan niệm, điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội và cơ cấu bộ máy của mỗi nước. Ở Việt Nam, trải qua các thời kỳ lịch sử, khái niệm "cán bộ, công chức" đã có nhiều lần thay đổi và được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật.
Ngày 13/11/2008, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Cán bộ, công chức, theo đó quy định: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự 12 nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Đặc điểm của nguồn nhân lực trong các đơn vị hành chính sự nghiệp Nguồn nhân lực trong các đơn vị hành chính sự nghiệp là một chỉnh thể những công chức, viên chức hoạt động có tổ chức, kỷ luật, có nguyên tắc, thể chế điều chỉnh và cùng hướng tới mục tiêu chung. Ở Việt Nam, sau hơn 30 năm đổi mới, nguồn nhân lực trong các đơn vị hành chính sự nghiệp đã có những bước phát triển, nhất là về cơ cấu tổ chức, trình độ và cơ cấu ngành nghề.
Nguồn nhân lực trong các đơn vị hành chính sự nghiệp ngày nay có số lượng đông đảo hơn, số công chức, viên chức có trình độ đại học và trên đại học tăng lên đáng kể.