Tổng quan nghiên cứu

Dân số tỉnh Tiền Giang năm 2018 đạt khoảng 1,76 triệu người với 76,65% dân số trong độ tuổi lao động, tạo ra nguồn nhân lực dồi dào cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn. Trong giai đoạn 2015 - 2018, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đầu người của tỉnh tăng trưởng ấn tượng từ 36,5 triệu đồng lên 47,5 triệu đồng/năm. Nằm trong bức tranh phát triển năng động đó, Làng nghề bánh - bún - hủ tiếu Mỹ Tho nổi lên như một điểm sáng văn hóa ẩm thực độc đáo. Đặc biệt, sản phẩm hủ tiếu Mỹ Tho đã vinh dự được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam trao bằng xác lập món ăn đạt giá trị ẩm thực châu Á tại kỳ Hội ngộ Kỷ lục gia lần thứ 27.

Tuy nhiên, làng nghề truyền thống này đang đứng trước nhiều thách thức nghiêm trọng như quy mô sản xuất nhỏ lẻ, thiếu vốn đầu tư đổi mới công nghệ, chất lượng sản phẩm chưa đồng đều và nguy cơ suy thoái môi trường do nước thải chế biến tinh bột chưa được xử lý triệt để. Đề tài tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển bền vững làng nghề, phân tích thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh tại 42 hộ dân và đề xuất các nhóm giải pháp toàn diện trên cả ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường, bám sát định hướng của Quyết định số 490/QĐ-TTg về Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP).

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại ấp Hội Gia, ấp Mỹ Hòa thuộc xã Mỹ Phong và khu phố 2 thuộc phường 9, thành phố Mỹ Tho trong khoảng thời gian từ tháng 01/2019 đến tháng 03/2019, kết hợp chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2015 - 2018. Về ý nghĩa thực tiễn, công trình đóng vai trò là luận văn khoa học tiên phong kết hợp phương pháp định tính và định lượng tại địa bàn, tạo tiền đề để nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm trên 20% và hướng tới kiểm soát 100% nguồn nước thải đạt chuẩn kỹ thuật môi trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng nền tảng lý thuyết phát triển bền vững được khởi xướng bởi Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED, 1987) thông qua báo cáo "Tương lai chung của chúng ta", kết hợp với tuyên bố tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất Rio de Janeiro (UNCED, 1992) và Ủy ban Phát triển bền vững Liên Hợp Quốc (CDS). Hệ thống lý thuyết này xác định phát triển bền vững là sự dung hòa tối ưu và liên tục giữa 3 trụ cột: tăng trưởng kinh tế, tiến bộ công bằng xã hội và bảo tồn tài nguyên môi trường.

Đối với khu vực nông thôn, các lý thuyết phát triển làng nghề của Szydlowski và cộng sự (2008), Đinh Xuân Nghiêm và cộng sự (2010), cùng công trình của Lê Xuân Tâm (2014) làm rõ rằng sự phát triển làng nghề phải đảm bảo gia tăng năng suất lao động, mở rộng quy mô thu nhập mà không làm tổn hại đến lợi ích của các thế hệ tương lai. Về mặt pháp lý và thể chế, nghiên cứu căn cứ trên Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống (tối thiểu 30% số hộ tham gia, hoạt động ổn định từ 2 năm trở lên và nghề có lịch sử trên 50 năm). Đồng thời, tác giả tích hợp bài học kinh nghiệm quốc tế từ phong trào "Mỗi làng một sản phẩm" (OVOP) khởi xướng năm 1979 tại quận Oita - Nhật Bản, chương trình OTOP tại Thái Lan từ năm 2000, cùng bài học thực tiễn từ tỉnh Quảng Ninh với 362 sản phẩm OCOP và 131 sản phẩm được cấp chứng nhận xếp hạng sao cấp tỉnh.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được cấu thành từ hai kênh độc lập. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2015 - 2018, các báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ của Ủy ban nhân dân tỉnh và các văn bản quy hoạch ngành công thương. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi cấu trúc kết hợp phỏng vấn sâu trực tiếp.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 42 hộ sản xuất bánh, bún, hủ tiếu, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện trên địa bàn xã Mỹ Phong và phường 9. Cỡ mẫu này đảm bảo phản ánh đầy đủ các nhóm quy mô sản xuất từ nhỏ lẻ hộ gia đình đến các cơ sở sản xuất bán tự động có thuê mướn lao động.

Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm:

  • Phương pháp thống kê mô tả (tính giá trị bình quân, giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, độ lệch chuẩn, bảng tần số) để mô tả các đặc tính kỹ thuật và tài chính của làng nghề.
  • Phương pháp so sánh chuỗi thời gian nhằm đánh giá biến động kinh tế và cơ cấu lao động qua các năm 2015 - 2018.
  • Phương pháp phân tích tài chính vi mô để lượng hóa chi phí đầu vào, doanh thu và tỷ suất lợi nhuận ròng của từng dòng sản phẩm.

Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm khắc phục triệt để hạn chế thiếu hụt sổ sách kế toán bài bản tại các hộ cá thể nông thôn, giúp định lượng chính xác hiệu quả vận hành và đo lường mức độ ô nhiễm thực tế. Nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục trong 3 tháng, từ tháng 01/2019 đến tháng 03/2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về hiệu quả kinh tế, hoạt động sản xuất kinh doanh tại 42 hộ khảo sát cho thấy sản phẩm hủ tiếu mang lại giá trị gia tăng và biên lợi nhuận cao nhất trong ba nhóm mặt hàng, đạt mức lợi nhuận bình quân khoảng 18 - 22 triệu đồng/tháng đối với các hộ có quy mô sản xuất lớn. Tuy nhiên, cơ cấu chi phí sản xuất bộc lộ tính dễ tổn thương khi chi phí mua nguyên vật liệu thô (gạo, bột năng) chiếm tới 65% - 70% tổng chi phí sản xuất. Mức độ cơ giới hóa còn chênh lệch lớn: chỉ có khoảng 35% số hộ trang bị máy tráng và máy cắt sợi tự động liên hoàn, trong khi 65% số hộ còn lại vẫn phụ thuộc vào phương thức phơi sấy thủ công ngoài trời chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi thời tiết thất thường.

Thứ hai, về khía cạnh xã hội, làng nghề đóng góp tích cực vào giải quyết việc làm tại chỗ cho hơn 250 lao động địa phương với mức thu nhập bình quân dao động từ 4,5 đến 6,5 triệu đồng/người/tháng. Tỷ lệ lao động nữ tham gia vào chuỗi sản xuất đạt trên 60%. Mặc dù vậy, chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều bất cập khi tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề chính quy chỉ đạt dưới 10%, chủ yếu làm việc theo phương thức truyền nghề gia đình. Tỷ lệ các cơ sở đạt giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm mới chỉ chiếm khoảng 45,2% tổng số hộ được điều tra.

Thứ ba, về trụ cột môi trường, kết quả khảo sát phản ánh hiện trạng đáng lo ngại khi hơn 70% hộ dân thừa nhận lượng nước thải phát sinh từ quá trình ngâm gạo và tách chiết tinh bột chua (có chỉ số BOD và COD cao vượt chuẩn cho phép) được xả thẳng trực tiếp vào hệ thống kênh rạch tự nhiên mà chưa qua hệ thống bể lắng hay xử lý sinh học khép kín.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng ô nhiễm và phát triển manh mún bắt nguồn từ việc các cơ sở sản xuất nằm xen kẽ trong khu dân cư nông thôn truyền thống, thiếu mặt bằng quy hoạch tập trung để xây dựng hệ thống xử lý chất thải chung. Khi so sánh với mô hình thành công của tỉnh Quảng Ninh – nơi 100% sản phẩm làng nghề OCOP được chuẩn hóa bao bì, có mã số truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất thải nghiêm ngặt – Làng nghề bánh - bún - hủ tiếu Mỹ Tho đang bộc lộ khoảng cách lớn về tính liên kết chuỗi giá trị và năng lực quản trị thương hiệu.

Dữ liệu khảo sát có thể được trực quan hóa rất rõ ràng thông qua một biểu đồ tròn mô tả cơ cấu chi phí vận hành (nguyên liệu chiếm 68%, nhân công 18%, năng lượng và hao mòn máy móc 14%) kết hợp với bảng phân tích ma trận điểm mạnh - điểm yếu giữa 3 trụ cột phát triển bền vững. Nghiên cứu chỉ ra rằng nếu không có sự can thiệp đồng bộ từ chính quyền địa phương thông qua việc hỗ trợ vốn tín dụng và tái cấu trúc chuỗi cung ứng, thương hiệu hủ tiếu Mỹ Tho sẽ gặp nhiều rủi ro cạnh tranh trước sự thâm nhập của các sản phẩm công nghiệp chế biến sẵn trên thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững Làng nghề bánh - bún - hủ tiếu Mỹ Tho theo định hướng giai đoạn 2020 - 2025, hệ thống giải pháp hành động cụ thể bao gồm:

  1. Hiện đại hóa công nghệ và chuẩn hóa chất lượng (Kinh tế): Triển khai chương trình hỗ trợ vốn vay ưu đãi từ nguồn quỹ khuyến công giúp các hộ dân đầu tư hệ thống máy sấy năng lượng mặt trời khép kín. Mục tiêu giảm tỷ lệ hao hụt nguyên liệu xuống dưới 5% và tăng năng suất sản xuất từ 25% đến 30% trước năm 2023. Chủ thể thực hiện: Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương Tiền Giang phối hợp với các hộ kinh doanh.
  2. Xây dựng thương hiệu tập thể và phát triển chuỗi giá trị OCOP (Kinh tế - Xã hội): Thành lập Hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ bánh - bún - hủ tiếu Mỹ Tho, đăng ký chỉ dẫn địa lý và hoàn thiện bao bì tem nhãn truy xuất nguồn gốc để đạt chứng nhận OCOP từ 3 đến 4 sao cấp tỉnh trong giai đoạn 2020 - 2022. Thiết lập kênh phân phối đưa sản phẩm vào ít nhất 5 hệ thống siêu thị hiện đại tại TP. Hồ Chí Minh và khu vực ĐBSCL, hướng đến mục tiêu tăng trưởng doanh thu 20%/năm. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân thành phố Mỹ Tho, Chi cục Phát triển nông thôn và Ban quản trị Hợp tác xã.
  3. Quy hoạch hạ tầng và xử lý ô nhiễm môi trường (Môi trường): Khẩn trương đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung công suất khoảng 200 - 300 m3/ngày đêm tại xã Mỹ Phong bằng nguồn vốn ngân sách kết hợp xã hội hóa, áp dụng công nghệ lọc sinh học để xử lý dứt điểm 85% lượng nước thải hữu cơ trước năm 2022. Chủ thể thực hiện: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang phối hợp chính quyền địa phương.
  4. Đào tạo nhân lực gắn với phát triển du lịch trải nghiệm (Xã hội): Tổ chức các lớp tập huấn an toàn thực phẩm định kỳ cho 100% chủ cơ sở sản xuất; xây dựng tuyến du lịch kết nối làng nghề với tour du lịch sinh thái sông nước cù lao Thới Sơn, phấn đấu thu hút từ 15.000 đến 20.000 lượt khách du lịch trải nghiệm mỗi năm trong giai đoạn 2021 - 2025. Chủ thể thực hiện: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các công ty lữ hành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn chuyên sâu cho bốn nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách địa phương: Bao gồm Sở Công Thương, Chi cục Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang. Đây là tài liệu căn cứ thực chứng giúp xây dựng Đề án OCOP cấp tỉnh, quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề và hoạch định chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế cho hơn 60 xã nông thôn mới trên địa bàn.
  2. Các hộ kinh doanh, hợp tác xã và chủ cơ sở sản xuất tại làng nghề: Cung cấp bức tranh phân tích tài chính chi tiết, định hướng đầu tư đổi mới công nghệ và phương pháp tổ chức chuỗi cung ứng khép kín nhằm nâng cao biên lợi nhuận ròng trên 15% và đáp ứng các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm khắt khe.
  3. Doanh nghiệp phân phối bán lẻ và các công ty lữ hành du lịch: Khai thác dữ liệu về đặc sản địa phương để thiết kế các tour du lịch văn hóa ẩm thực Nam Bộ, đồng thời ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm hủ tiếu truyền thống đưa vào chuỗi cung ứng siêu thị và xuất khẩu.
  4. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế, Quản trị kinh doanh, Phát triển nông thôn: Xem công trình như một nghiên cứu điển hình về việc kết hợp phương pháp định tính và định lượng trong đánh giá phát triển bền vững làng nghề chế biến thực phẩm tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Câu hỏi thường gặp

Điểm độc đáo nổi bật của sản phẩm hủ tiếu Mỹ Tho trong nghiên cứu là gì?

Hủ tiếu Mỹ Tho là đặc sản ẩm thực truyền thống có lịch sử trên 50 năm, vinh dự nhận bằng công nhận xác lập món ăn đạt giá trị ẩm thực châu Á tại kỳ Hội ngộ Kỷ lục gia lần thứ 27. Sản phẩm nổi bật nhờ việc sử dụng nguồn gạo đặc trưng của vùng Tiền Giang kết hợp kỹ thuật chế biến tạo nên sợi bánh trong, dai giòn tự nhiên và không sử dụng phụ gia hóa chất độc hại.

Khảo sát thực tế 42 hộ cho thấy rào cản lớn nhất của làng nghề hiện nay là gì?

Rào cản lớn nhất là ô nhiễm môi trường khi hơn 70% hộ dân chưa có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn, cùng với quy mô sản xuất nhỏ lẻ khi 65% cơ sở vẫn phụ thuộc vào phơi sấy tự nhiên. Ngoài ra, tỷ lệ lao động qua đào tạo bài bản chỉ đạt dưới 10%, gây hạn chế lớn cho việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật và mở rộng thị trường tiêu thụ hiện đại.

Mô hình quốc tế nào được luận văn vận dụng thành công nhất để đề xuất giải pháp?

Luận văn vận dụng sâu sắc mô hình OVOP của Nhật Bản (khởi xướng năm 1979 tại Oita) và OTOP của Thái Lan (từ năm 2000). Cả hai mô hình này chứng minh hiệu quả của nguyên tắc hành động địa phương nhưng tư duy toàn cầu, nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc bảo trợ nhãn hiệu, chuẩn hóa chất lượng và xúc tiến thương mại quốc tế cho các sản phẩm truyền thống.

Làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường tại làng nghề?

Giải pháp tối ưu là triển khai mô hình kinh tế tuần hoàn và đầu tư trạm xử lý nước thải tập trung công suất khoảng 200 - 300 m3/ngày đêm theo cơ chế công - tư. Nước thải ngâm ủ tinh bột được xử lý qua bể biogas và lọc sinh học, đồng thời bã tinh bột được thu hồi làm thức ăn gia súc, giúp cắt giảm hơn 85% chỉ số ô nhiễm hữu cơ ra môi trường.

Luận văn đóng góp gì cho Chương trình OCOP của tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2018 - 2020?

Công trình cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm toàn diện từ 42 hộ sản xuất và các chuyên gia quản lý ngành, đóng vai trò làm luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ triển khai Quyết định 490/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, thúc đẩy hủ tiếu Mỹ Tho trở thành sản phẩm OCOP mũi nhọn đạt chuẩn 4 sao cấp tỉnh.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh khung lý luận về phát triển bền vững làng nghề trên 3 trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường và đúc kết bài học thực tiễn từ Nhật Bản, Thái Lan cùng mô hình OCOP Quảng Ninh.
  • Đánh giá trung thực hiện trạng Làng nghề bánh - bún - hủ tiếu Mỹ Tho thông qua bộ dữ liệu khảo sát thực địa từ 42 hộ sản xuất và phỏng vấn sâu các nhà quản lý ngành công thương, nông nghiệp tỉnh Tiền Giang.
  • Nhận diện rõ các điểm nghẽn then chốt về công nghệ chế biến bán cơ giới, tỷ lệ cơ sở đạt chứng nhận an toàn thực phẩm mới đạt 45,2% và tỷ lệ xả thải trực tiếp vượt mức 70%.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá gắn liền với Chương trình OCOP quốc gia, vạch rõ lộ trình hành động và phân công chủ thể thực hiện cụ thể trong giai đoạn 2020 - 2025.
  • Khẳng định hướng đi chiến lược kết hợp bảo tồn làng nghề truyền thống với phát triển du lịch trải nghiệm sinh thái sông nước.

Để bảo tồn và phát huy giá trị di sản ẩm thực châu Á của hủ tiếu Mỹ Tho, các cơ quan ban ngành tỉnh Tiền Giang cùng cộng đồng hộ sản xuất cần nhanh chóng bắt tay triển khai đồng bộ các giải pháp công nghệ, quy hoạch môi trường và liên kết chuỗi giá trị OCOP ngay trong giai đoạn tới.