CHƯƠNG 1 KHAI QUAT CHUNG VE LAO DONG TAN TAT VA SU CAN THIET PHAI C6 NHUNG QUY DENH RIENG DOI VOL LAO DONG TAN TAT 1. Lao động tàn tật— Một loại lao động có đặc điểm riêng 1.1 Lao động có đặc điểm riêng theo pháp luật lao động Uiệt Nam Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bỗ sung năm 2001), một văn bản pháp 1ÿ có hiệu lực cao nhất của nước ta đã ghi nhận: “Lao động là quyền vả nghĩa vụ của công dân” (Điều 55) và “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” (Diễu 52). Như vậy, quyền và nghĩa vụ lao động là một phạm trủ pháp lý phổ biến áp dụng với mọi công dân Việt Nam, điều nảy cũng phủ hợp với Tuyên ngôn của Đại hội đồng Liên hiệp quốc về quyền con người (năm 1948) Trong Bộ luật lao động Việt nam có nêu “Người lao động là người có ít nhất dữ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp dồng lao động: (Điều 6). Song có một thực tế là trong số những người lao động dap ứng cả ba yếu tố trên không phải đều tham gia vào quan hệ lao động một cách giống nhau.
Xuất phát từ tính chất, đặc diểm của ngành nghề, công việc cũng như đặc diém riêng của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ lao động mà ngoài những quy định chung cho mọi người lao động, Dộ luật lao động đã dành riêng Chương XI, quy dinh lao động có tính đặc thủ. Cần phải lưuý rằng, việc quy dịnh một số chế dộ lao động áp dụng riêng cho một số lao đông đặc biệt không phải là một đặc quyền, đặc lợi mà xuất phát từ hoàn cảnh thực tế khách quan, từ nhu cầu chính đáng của lao động này, giúp họ giảm bớt những khó khăn, thiệt thỏi trong cuộc sống, hòa nhập với công đông và bảo vệ họ khi tham gia vào quan hệ lao động. Như vậy, có thể hiểu lao động có đặc điểm riêng là hệ thông các quy phạm điều chỉnh một số quan hệ lao động có những yếu tổ đặc thủ nhằm bảo vệ những lợi ích của bản thân người lao động cũng như lợi ích chung của xã hội Trong diễu kiện hiện nay, lao động có đặc diễm riêng được coi như một chế định của luật lao động Việt Nam, chế định này được phân loại dựa trên một số yếu tổ cơ bản và có tỉnh phổ biển sau trạng sử dụng lao động tản tật không có hợp đồng lao đông, không có bảo hiểm xã hội, sự vi phạm về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, về an toàn vệ sinh lao động,. còn xây ra khá phổ biến.
Hơn thể, công tác thanh kiểm tra còn lông lẻo, việc xử lý vi pham còn bi xem nhẹ, việc tuyên truyền phổ biến pháp luật trong đối Lượng nay còn chưa thường xuyên và chưa sâu rộng. 'Pừ tỉnh hình trên em lựa chọn “Pháp luật về lao động tàn tật ở Việt am” làm để tài luận văn thạc sỹ của mình, với mong muốn góp phần vào việc hoàn thiện những vẫn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật đối với lao động tàn tật ở nước ta. Mục đích nghiên cứu Đề tài nghiên cứu pằm hai mặt là - Phân tích và lâm sáng tỏ một số vẫn đề lý luận và thực tiễn áp đụng các quy dịnh pháp luật đối với lao đông là người tân tậL - Từ đó, rút ra những kết luận cần thiết, những ý kiến dễ xuất nhằm póp phần hoàn thiện chế độ pháp lý đối với lao động tàn tật, cũng như áp đụng có hiệu quả chứng trong thực tiển đời sống, 3. Phạm vì nghiên cứu - Khái quát chung về lao động tản tật, thực trạng lao động tàn tật ở Việt Nam - Phần tích, đánh giá các quy định của pháp luật đổi với lao đông tàn tật và thực liễn áp dựng.
- Ngoài ra, luận văn còn nêu lên những điểm hạn chế, bật cập trong các quy định pháp luật về lao động tản tật, để từ đó để xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lao động tàn tật ỡ Việt Nam 4. Tình hình nghiên cửu Nghiên cứu pháp luật về lao động tàn tật ở Việt Nam là một đề tài khá mới mẽ trên cả bình diện lý luận và thực tiễn. Đã có một số bài bảo vá một vải công trình nghiên cứu về vẫn đề này, như: 'Thứ nhất, xuất phát từ những đặc điểm của bên chủ thể là người lao động, - Lao động nữ - Lao động chưa thành niên - Lao động là người là - Lao động là người cao tuổi - Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao - Lao động là người nước ngoài 'Lhứ hai, xuất phát từ những đặc điểm của bên chủ thể là người sử dụng lao động có - Lao động cho tổ chức, cả nhân nước ngoài - Lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài - Lao động ở những nơi sứ dụng dưới 10 người lao động 'Phứ ba, xuất phát tử những dặc diễm, tính chất của công việc có. - Lao động nghệ thuật - Lao động làm việc tại nhà - Lao động giúp việc gia đình Cho đến nay, ở nước ta chưa có tiêu chí và phân loại thống nhất về người tân tật cũng như lao đông tản tật.
Theo báo cáo của Bộ lao dộ — Thương bình và Xã hôi tại Tờ trình Chính phủ về Dự án luật người khuyết tật số 45/IIr- LĐTDXI ngày 07 tháng 8 năm 2009 thì cả nước hiện có khoảng 5,3 triệu người tàn tật, chiếm 6,34% dân số. Trong đỏ: 29,41% tàn tật vận động, 16,2% tâm thần, 17% đa đạng tật, 13,84% thị giác, các dang tat thính giác, ngôn ngữ, trí tuệ chiếm Ly lệ thấp hơn (tử 6 — 10%). Nguyên nhân gây ra tăn tật có tới 35,8% bam sinh, do bệnh tật chiêm 32,243; đo hậu quả chiến tranh là 25,56%, còn lại là các nguyên nhân khác như tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và lai nạn giao thông. Dự báo trong nhiều nấm tới số lượng người tản tật ở Việt Nam chưa giảm do tác động của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của chất độc hóa học do 2.3 Nhóm các quy định riêng về dạy nghề cho lao động tản 4 tật 2.3 Ouy định về tý lệ lao động tàn tật mà doanh nghiệp phải nhận 46 vào làm việc 2.4 VỀ quỹ việc làm cho người tần tật 48 2.5 Nhằm các quy dịnh về thời giỏ làm việc, thời giờ nghĩ ngơi 30 2.6 Nhóm các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động 51 2.2 Thue trạng lau động lần (ật và việc thực hiện các quy định phap luật dối với lao dộng tan tật 2.1 Thực trang lao động tàn tật s2 2.2 Việc thực hiện pháp luật về lao động tản tật 54 Chương 5 Hoàn thiện pháp luật về lao động tân tật ở Việt Nam 57 3.1 Một số nhận xét và đánh giá pháp luật về lao động tân tật 3.2 Về hạn chế 59 3.2 Sự cần thiết của việc huần thiện pháp luật về lan động tần tậL 62 3.1 Về mặt khách quan 62 3.2 Về mặt chủ quan 63 3.3 Mật số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về lao động Lần tật 64 3.1 Về các quy định của pháp luật 64 3.2 VỀ các biện pháp Lễ chức thực hiện và hỗ trợ 67 Kết Luận 70 Tài liệu tham khảo Z1 trạng sử dụng lao động tản tật không có hợp đồng lao đông, không có bảo hiểm xã hội, sự vi phạm về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, về an toàn vệ sinh lao động,.
còn xây ra khá phổ biến. Hơn thể, công tác thanh kiểm tra còn lông lẻo, việc xử lý vi pham còn bi xem nhẹ, việc tuyên truyền phổ biến pháp luật trong đối Lượng nay còn chưa thường xuyên và chưa sâu rộng. 'Pừ tỉnh hình trên em lựa chọn “Pháp luật về lao động tàn tật ở Việt am” làm để tài luận văn thạc sỹ của mình, với mong muốn góp phần vào việc hoàn thiện những vẫn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật đối với lao động tàn tật ở nước ta. Mục đích nghiên cứu Đề tài nghiên cứu pằm hai mặt là - Phân tích và lâm sáng tỏ một số vẫn đề lý luận và thực tiễn áp đụng các quy dịnh pháp luật đối với lao đông là người tân tậL - Từ đó, rút ra những kết luận cần thiết, những ý kiến dễ xuất nhằm póp phần hoàn thiện chế độ pháp lý đối với lao động tàn tật, cũng như áp đụng có hiệu quả chứng trong thực tiển đời sống, 3.
Phạm vì nghiên cứu - Khái quát chung về lao động tản tật, thực trạng lao động tàn tật ở Việt Nam - Phần tích, đánh giá các quy định của pháp luật đổi với lao đông tàn tật và thực liễn áp dựng. - Ngoài ra, luận văn còn nêu lên những điểm hạn chế, bật cập trong các quy định pháp luật về lao động tản tật, để từ đó để xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lao động tàn tật ỡ Việt Nam 4. Tình hình nghiên cửu Nghiên cứu pháp luật về lao động tàn tật ở Việt Nam là một đề tài khá mới mẽ trên cả bình diện lý luận và thực tiễn. Đã có một số bài bảo vá một vải công trình nghiên cứu về vẫn đề này, như: CHƯƠNG 1 KHAI QUAT CHUNG VE LAO DONG TAN TAT VA SU CAN THIET PHAI C6 NHUNG QUY DENH RIENG DOI VOL LAO DONG TAN TAT 1.
Lao động tàn tật— Một loại lao động có đặc điểm riêng 1.1 Lao động có đặc điểm riêng theo pháp luật lao động Uiệt Nam Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bỗ sung năm 2001), một văn bản pháp 1ÿ có hiệu lực cao nhất của nước ta đã ghi nhận: “Lao động là quyền vả nghĩa vụ của công dân” (Điều 55) và “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” (Diễu 52). Như vậy, quyền và nghĩa vụ lao động là một phạm trủ pháp lý phổ biến áp dụng với mọi công dân Việt Nam, điều nảy cũng phủ hợp với Tuyên ngôn của Đại hội đồng Liên hiệp quốc về quyền con người (năm 1948) Trong Bộ luật lao động Việt nam có nêu “Người lao động là người có ít nhất dữ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp dồng lao động: (Điều 6). Song có một thực tế là trong số những người lao động dap ứng cả ba yếu tố trên không phải đều tham gia vào quan hệ lao động một cách giống nhau.