Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI TRONG KHUYẾN MẠI 1. Khái quát chung về xúc tiến thương mại trong khuyến mại 1. Xúc tiến thương mại a) Khái niệm xúc tiến thương mại Xúc tiến thương mại (XTTM) theo quan điểm truyền thống là hoạt động trao đổi và hỗ trợ trao đổi thông tin giữa bên bán và bên mua, hoặc qua khâu trung gian, nhằm tác động tới thái độ và hành vi buôn bán, qua đó thúc đẩy việc mua bán và trao đổi hàng hóa và dịch vụ[10;tr56]. Theo quan điểm này, XTTM gồm các hoạt động sau: - Hoạt động thông tin thương mại và nghiên cứu thị trường.
- Hoạt động tuyên truyền, quảng cáo, triển lãm và KM hàng hóa và dịch vụ. - Tổ chức và tham gia các đoàn khảo sát thị trường nước ngoài. - Đón tiếp và tổ chức cho các đoàn thương mại và TN nước ngoài vào khảo sát thị trường nội địa. - Đại diện thương mại tại nước ngoài.
Trong cơ chế thị trường, DN phải đối mặt với những khó khăn, thách thức trong việc thâm nhập và mở rộng thị trường. Vì vậy, các DN không chỉ tiến hành các hoạt động XTTM truyền thống mà phải quan tâm đến nhu cầu thị trường, xây dựng và phát triển thương hiệu… Như vậy, khái niệm thương mại hiểu theo nghĩa rộng, gắn liền với nội dung các hoạt động mà các chủ thể XTTM cần thực hiện trong quá trình đưa hàng hóa, dịch vụ đến với người tiêu dùng. Để thực hiện nhiệm vụ này, DN phải phối kết hợp với nhiều cơ quan XTTM khác nhau, cả cơ quan chính phủ và phi chính phủ. Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC) cho rằng hoạt động XTTM được thực hiện cả ở tầm vi mô (các DN) và tầm 10 vĩ mô (Chính phủ và các tổ chức XTTM).
Như vậy, khái niệm XTTM được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng: dưới góc độ của chủ thể kinh doanh (ở tầm vi mô) là hoạt động xúc tiến bán hàng (sale promotion), dưới góc độ của chính phủ (ở tầm vĩ mô) là một phần của hoạt động phát triển thương mại (trade development) của quốc gia đó[22;tr48]. Hoạt động XTTM có một số đặc điểm cơ bản như sau[22;tr50]: - Về tính chất: XTTM là một loại hoạt động thương mại. Đặc điểm này cho phép khẳng định XTTM là hoạt động nhằm mục đích sinh lời và thường do TN thực hiện. Tuy nhiên, khác biệt với các loại hoạt động thương mại khác, XTTM có ý nghĩa hỗ trợ cho hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hay các hoạt động thương mại có mục đích sinh lời khác, tạo cơ hội khuyến khích, thúc đẩy các hoạt động này thực hiện với hiệu quả cao nhất.
- Về chủ thể: Do XTTM nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ nên chủ thể thực hiện XTTM (ở tầm vi mô) chủ yếu là TN cho dù Luật thương mại quy định đối tượng áp dụng của Luật là TN và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động thương mại. Chủ thể của hoạt động XTTM phải có tư cách pháp lý độc lập, là TN Việt Nam hoặc TN nước ngoài. Pháp luật không cho phép các văn phòng đại diện tiến hành KM, quảng cáo… và chỉ cho phép chi nhánh được XTTM phù hợp với nội dung hoạt động ghi trong giấy phép. - Về mục đích: XTTM nhằm mục đích trực tiếp là tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và thông qua đó mục đích lợi nhuận của TN đạt được.
Theo Luật thương mại, mục đích của XTTM không bao gồm việc tìm kiếm thúc đẩy cơ hội đầu tư (xúc tiến đầu tư). Về mặt lý luận, hoạt động thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và hoạt động đầu tư mang bản chất khác nhau nhưng các biện pháp, cách thức để xúc tiến quá trình đó thì có rất nhiều nét tương đồng. Trong mọi trường hợp, các biện pháp thông tin, quảng 11 cáo, triển lãm… nhằm giới thiệu, khuếch trương cho TN và hoạt động thương mại của họ đều mang lại hiệu quả phát triển thương mại, bao gồm cả đầu tư. - Về cách thức XTTM: do có đối tượng áp dụng chủ yếu là TN nên Luật thương mại chỉ quy định các cách thức XTTM do TN tiến hành, bao gồm việc TN tự mình XTTM hoặc thuê TN khác thực hiện dịch vụ.
XTTM cho mình, với các hoạt động cụ thể: KM, quảng cáo, hội trợ triển lãm thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ. Về không gian thực hiện: hoạt động XTTM được thực hiện ở nhiều không gian khác nhau, trong phạm vi quốc gia và các biện pháp liên hệ với thị trường khu vực và quốc tế. b) Các hình thức xúc tiến thương mại Hoạt động XTTM có những hình thức cơ bản sau; Thứ nhất, quảng cáo thương mại. Điều 102 Luật thương mại năm 2005 quy định[26]: “Quảng các thương mại là hoạt động XTTM của TN để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình”.
Phân biệt với quảng cáo nói chung và các hoạt động XTTM khác, quảng cáo thương mại có các đặc điểm pháp lý cơ bản như sau: - Chủ thể hoạt động quảng cáo thương mại là TN. Với tư cách là người kinh doanh, TN thực hiện quảng cáo thương mại để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của mình hoặc thực hiện dịch vụ quảng cáo cho TN khác theo hợp đồng để tìm kiếm lợi nhuận. Đây là đặc điểm để phân biệt quảng cáo thương mại với các hoạt động thông tin, cổ động do cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội…thực hiện nhằm tuyên truyền về đường lối, chủ trương, chính sách thương mại của Đảng và Nhà nước. - Về tổ chức thực hiện: TN có thể tự mình hoặc thuê dịch vụ quảng cáo của TN khác thông qua hợp đồng dịch vụ.
Do quảng cáo có tác động rất lớn đến hoạt động bán hàng, cung ứng dịch vụ nên TN sử dụng quảng cáo để khuyếch 12 trương hàng hóa, dịch vụ của mình, tăng cường cơ hội thương mại và cơ hội lợi nhuận. - Các thức XTTM: trong hoạt động quảng cáo thương mại, TN sử dụng sản phẩm và phương tiện quảng cáo thương mại để thông tin về hàng hóa, dịch vụ đến khách hàng. Những thông tin bằng hình ảnh, tiếng nói, chữ viết… về hàng hóa, dịch vụ cần giới thiệu được truyền tải đến công chúng thông qua các phương tiện truyền thanh, truyền hình, ấn phẩm…Đặc điểm này cho phép phân biệt quảng cáo thương mại với những hình thức XTTM khác cũng có mục đích giới thiệu hàng hóa, dịch vụ như trưng bày, giới thiệu hàng hóa, hội trợ triển lãm. - Mục đích trực tiếp của quảng cáo thương mại là giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ để XTTM, đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận của TN.
Thứ hai, trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ. Theo Điều 117 Luật Thương mại năm 2005 quy định[26]: “Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ là hoạt động XTTM của TN dùng hàng hóa, dịch vụ và tài liệu về hàng hóa, dịch vụ để giới thiệu với khách hàng về hàng hóa, dịch vụ đó; kinh doanh dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ là hoạt động thương mại của TN để thực hiện cung ứng dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ cho TN khác”. Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ là một cách thức thông tin đến khách hàng mà phương tiện để truyền tải thông tin chính là hàng hóa và dịch vụ đó. Cách thức thông tin này là đặc điểm để phân biệt hình thức trưng bày, giới thiệu với hình thức quảng cáo thương mại.
Các hình thức trưng bày, giới thiệu theo quy định của Luật thương mại 2005 bao gồm: mở phòng trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ; trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ tại các trung tâm thương mại hoặc thông qua các hoạt động giải trí, thể thao, văn hóa, nghệ thuật; tổ chức hội nghị, hội thảo có trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ; trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ trên internet và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. 13 Đối tượng được trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ là hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực kinh doanh của TN. Điều 121, 122 Luật thương mại năm 2005 quy định hàng hóa, dịch vụ trưng bày, giới thiệu phải là những hàng hóa, dịch vụ kinh doanh hợp pháp trên thị trường, phải tuân thủ các quy định của pháp luật về chất lượng hàng hóa và ghi nhãn hàng hóa. Đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam để trưng bày, giới thiệu tại Việt Nam, ngoài việc đáp ứng các điều kiện trên còn phải là hàng hóa được phép nhập khẩu vào Việt Nam.
Thứ ba, văn phòng đại diện của tổ chức xúc tiến thương mại nước ngoài tại Việt Nam. Theo quy định của Nghị định số 100/2011/NĐ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2011 của Chính phủ quy định về thành lập và hoạt động văn phòng đại diện của tổ chức XTTM nước ngoài tại Việt Nam thì tổ chức XTTM nước ngoài bao gồm: các tổ chức thuộc Chính phủ hoặc phi Chính phủ, các hiệp hội, hội… được thành lập theo quy định của nước nơi tổ chức đặt trụ sở, thực hiện các hoạt động liên quan đến XTTM tại Việt Nam nhằm thúc đẩy các hoạt động XTTM từ nước ngoài vào Việt Nam và ngược lại; hỗ trợ các DN của nước ngoài thâm nhập vào và hoạt động tại thị trường Việt Nam; nghiên cứu và cung cấp các thông tin kinh tế, thương mại, thị trường cho các tổ chức, DN nước ngoài; thúc đẩy các hoạt động thương mại qua biên giới với Việt Nam; các hoạt động nhằm kết nối giao thương giữa các DN nước ngoài và các DN tại Việt Nam. Nghị định số 100/2011/NĐ-CP cũng quy định cụ thể điều kiện thành lập, tổ chức, nội dung hoạt động, báo cáo hoạt động, chấm dứt hoạt động và các nghĩa vụ khác của tổ chức XTTM nước ngoài, của văn phòng đại diện của tổ chức cũng như của người đại diện của tổ chức.