mở đầu về hợp đồng và nghĩa vụ hợp đồng trong BLDS Cộng Hòa Pháp thì: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó” 2. Theo định nghĩa này, hợp đồng chính là sự thống nhất ý chí giữa hai hoặc nhiều người, không giới hạn số người tham gia vào quan hệ hợp đồng, trong đó liên quan tới việc mua bán một vật hoặc không được làm một việc gì đó. Trong khi đó, Điều 1.378 Chương II, Mục 1, Quyển 5 về các nghĩa vụ dân sự, BLDS Qué bec (Canada) quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận ý chí về việc một hoặc một số người nhận thực hiện nghĩa vụ đối với một hoặc một số người khác”. Theo quy định tại Điều 1.201 Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ thì: “Hợp đồng là tổng hợp các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ sự “thỏa thuận” của các bên…”.
Điều 2 của Luật Hợp đồng Trung Quốc 1999 quy định: “Hợp đồng theo quy định của luật này là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên, các tổ chức khác…” 3. Như vậy, cũng giống như pháp luật La Mã, khái niệm hợp đồng trong pháp luật Trung Quốc được nhìn nhận như một căn cứ xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể. Tuy nhiên, điều khác biệt 1 Đinh Thị Mai Phương, Thống nhất luật hợp đồng ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, 2005, trang 8. 2 Nhà pháp luật Việt Pháp, Bộ luật Dân sự nước cộng hòa Pháp , Nxb Chính trị Quốc gia, 1998, trang 34.
3 Đinh Thị Mai Phương, Thống nhất luật hợp đồng ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, 2005, trang 14. 8 là BLDS Trung Quốc nhấn mạnh yếu tố bình đẳng giữa các chủ thể (cá nhân, pháp nhân,.) của hợp đồng. Tương tự như cách định nghĩa về hợp đồng của BLDS Pháp, khoản 1 Điều 420 BLDS Nga (1994) quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”4. Dưới góc độ pháp luật thực định, khái niệm hợp đồng tại Việt Nam được quy định tại Điều 385 BLDS 2015, theo đó: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” Như vậy, các định nghĩa trên tuy có cách thể hiện khác nhau phù hợp cách thức lập pháp của từng quốc gia nhưng nói chung đều chỉ rõ bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các chủ thể, hay nói cách khác yếu tố thống nhất ý chí của các bên.
Khi đối chiếu với định nghĩa hợp đồng của BLDS 2015 của Việt Nam thì có thể nói, khái niệm hợp đồng của BLDS 2015 có nhiều điểm giống BLDS Nga, Trung Quốc nhưng thể hiện tính ngắn gọn, súc tích và đầy đủ. Có thể nói, thuật ngữ “hợp đồng” là một phạm trù đa nghĩa và có thể được xem xét nhiều góc độ khác nhau. Các luật gia Việt Nam thường hiểu khái niệm “hợp đồng” theo hai nghĩa: nghĩa khách quan và nghĩa chủ quan. Theo nghĩa khách quan, “hợp đồng” là một bộ phận của chế định nghĩa vụ trong Luật Dân sự, bao gồm các “quy phạm pháp luật được quy định cụ thể trong BLDS nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội (chủ yếu là quan hệ tài sản) trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau”.
Theo nghĩa chủ quan, hợp đồng “là sự ghi nhận kết quả của việc cam kết, thỏa thuận giữa các chủ thể giao kết hợp đồng” hay “là kết quả của việc thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên, được thể hiện trong các điều khoản cụ thể về quyền và nghĩa vụ mỗi bên để có cơ sở cùng nhau thực hiện”. Xét về bản chất, hợp đồng được tạo ra bởi sự thỏa thuận, là kết quả của quá trình thương thảo và thống nhất ý chí giữa các bên để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đối với nhau, trừ những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật có quy định là không thể thay đổi hoặc chấm dứt bằng thỏa thuận của các bên. Xét về vị trí và vai trò của hợp đồng, theo nghĩa hẹp, hợp đồng là một loại giao dịch dân sự, là căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự. Một hợp đồng phải xuất phát từ yếu tố thoả thuận nhưng không phải mọi thoả thuận đều là hợp đồng.
Chỉ những thoả thuận làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên mới tạo nên quan hệ hợp đồng. Như vậy có thể hiểu: Hợp đồng là phương tiện pháp lý, là sự thể hiện ý chí của các bên để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ. Hợp đồng là loại hành vi pháp lý cơ 4 Nguyễn Ngọc Khánh, chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, 2005, trang 35. 9 bản và thông dụng nhất.
Ý chí của các bên đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, khi sự thống nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinh nghĩa vụ ràng buộc các bên. Khái niệm hợp đồng cung ứng dịch vụ: Quan hệ cung ứng dịch vụ được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng cung ứng dịch vụ. Hợp đồng cung ứng dịch vụ mang bản chất chung của hợp đồng, là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ cung ứng dịch vụ. Dịch vụ xuất hiện từ khá lâu, ngày càng phát triển và khẳng định vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội.
Ngày nay, có thể dễ dàng nhận thấy nhiều loại hình dịch vụ trong đời sống thường ngày như: dịch vụ ăn uống, giặt là, cắt tóc, dịch vụ giáo dục, dịch vụ vận chuyển hàng hóa,.Tuy nhiên, hiện nay tồn tại nhiều khái niệm khác niệm khác nhau về dịch vụ. Theo Luật giá năm 2012: “Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật”. Tính vô hình của dịch vụ thể hiện ở chỗ sản phẩm dịch vụ không có kiểu dáng, kích cỡ rõ ràng như sản phẩm hàng hóa nên không nhận biết được bằng các giác quan ( ngửi, xem, sờ,. Tính vô hình của dịch vụ biểu hiện ở các mức độ khác nhau, nói cách khác, sự pha trộn giữa phần hiện hữu và không hiện hữu trong các dịch vụ là khác nhau.
Trong từ điển Wikipedia, dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ.và mang lại lợi nhuận. Về bản chất, dịch vụ là sản phẩm được tạo ra để thỏa mãn nhu cầu khác nhau của con người. Khi sử dụng dịch vụ, nhất là dịch vụ thương mại, người sử dụng phải trả một khoản tiền nhất định cho bên cung ứng dịch vụ, tức là dịch vụ cũng có giá trị và giá trị sử dụng như là hàng hóa. Chỉ có điều, dịch vụ là sản phẩm hàng hóa vô hình, người sử dụng không sở hữu dịch vụ mà chỉ được hưởng những tiện ích từ dịch vụ mang lại.
Do vậy, dịch vụ cũng là hàng hóa nhưng là hàng hóa vô hình. Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. Như vậy, có thể hiểu cung ứng dịch vụ là việc mà một bên sẽ thực hiện công việc nào đó theo yêu cầu của khách hàng và sẽ nhận lại được thanh toán cho việc của mình. 10 Theo đó, hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại được hiểu như sau: “Hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện, cung cấp dịch vụ cho bên sử dụng dịch vụ (khách hàng), còn bên sử dụng dịch vụ phải thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ”.
Hợp đồng cung ứng dịch vụ là hình thức pháp lý của quan hệ cung ứng dịch vụ, nó gắn liền với hoạt động cung ứng dịch vụ. Đặc điểm của hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại: Hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại cũng mang những đặc điểm pháp lý cơ bản của hợp đồng dịch vụ trong dân sự. Thứ nhất, hợp đồng cung ứng dịch vụ là hợp đồng song vụ: Bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ đều có quyền và nghĩa vụ của mình, trong đó quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Mỗi bên trong hợp đồng đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình.
Trong hợp đồng cung ứng dịch vụ tồn tại hai nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau: bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện các hành vi pháp lí theo yêu cầu của bên sử dụng dịch vụ còn bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ tiếp nhận kết quả công việc và trả tiền công cho bên cung ứng dịch vụ. Ví dụ như trong hợp đồng vận chuyển tài sản thì bên vận chuyển có nghĩa vụ vận chuyển hàng hóa đến đúng nơi quy định hoặc được thỏa thuận, còn bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ thanh toán cước phí cho bên vận chuyển. Khi các bên đã thoả thuận thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn; không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình, trừ trường hợp tài sản của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết cho đến khi bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc có người bảo lãnh; hoặc nếu bên thực hiện nghĩa vụ trước chưa thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn.