CHƯƠNG 1.NHỮNG VÂN DẺ LÝ LUẬN VE PHÄP LUẬT BẢO VỆ MỖI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG 1. _ Các quan niệm: lưu vực sông, quản iý lưu vực sông, quản lý mỗi trường theo lưu vực sông 1. Quân lý lun vực sông 1. Quân lÿ mỗi trường theu lưa vực xông 1.
Thực trạng môi trường nước lưu vực sông ở Việt Nam va như cầu quản lý, bảa vệ môi trường nước theo lưu vực sâng 1. Thực trạng mỗi trường nước lưu vực sông ô Việt Ni 1. Nha câu quản lý, bảo vệ môi trường nước lưu vực sing & Viet Nam 1. Quan niệm về pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông 3.
Mục tiêu xây dựng và hoản thiện pháp luật bảo vệ môi 80 trường nước lưu vực sông 3. Giải pháp hoàn thiện nhấp luật bảo vệ môi trường nước lưu 83 vực sông 3. Xây dựng và hoàn thiện các guy dink pháp tuật về bẫp vệ mỗi 83 trường nước lưu vực sông 3. Xây dung và hoàn thiện các quy định về thiết chế bảo vệ môi trường rước lưu viẹc xông 3.
Xây dựng và hoàn thiện các quy định về cơ chế tài chính cho 86 hoạt động bền vệ mỗi trường nức hơn vực sông 3.4 Tăng cường tễ chức thực hiệu pháp luột về bảo vệ môi 89 trường nước lưu vực sông 3. Khuyén khích việc “xã hội hoa” công tác bảo vệ môi trường nưức lu vực sông KET LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO MO DAU 1. Tính cấp thiết của để tải Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Châu Á, do địa hình bị chĩa cất mạnh và khí lậu nhiệt dời giỏ mùa, mưa nhiều (trung bình khoảng 2600mn/năm) đã tạo nên mạng lưới sông ngòi, kênh rạch khá phát triển với số lượng 2360 cơn sông có chiều dai hon 10km, phân lớn thuộc loại vừa và nhỏ. Hâu hết các sông suối nói trên tập trung thành các hệ thống sông, trong đỏ có 11 hệ thống sông lớn là: lưu vực sông Hỗng, sông Thái Bình, sông Bằng Giang, sông Kỷ Cửng, sông Mã, sông Cả, sông Vũ Gia, sông Thu Bồn, sông Ba, sông Đông Nai, sông Cữm Long (MeKong).
Trung bình cứ khoảng 15-20 km bở biển lại có một của sông. Sông MelKong ở miễn Nam, sêng Hồng ở miễn Bắc là những đỏng sảng vào loại lớn và đài ở Châu Á và trên thê giới Do đặc điểm dia hinh, bau hết các tính của Việt Nam đếu có các phần lãnh thổ nam trong hưu vực các hệ thống sông lớn, ví dụ hưu vực sông Hồng hao gồm phân lãnh thổ của 25 tỉnh thành phía Bắc, lưu vực sông MecKong gồm phần lãnh thổ của 17 tỉnh (12 tỉnh đồng bằng sông Cứu Long, 3 tỉnh Tây Nguyễn, Quảng Trị và Lai Châu), lưu vực sông Đồng Nai - Sai Gon gồm phân lãnh thẻ ủa 11 tĩnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Cuộc sống của dân tộc Việt Nam gắn liền với sông nước. Cải nôi của văn hoá sỏng llỗng, nghẻ lủa nước sông llỏng đã là những tên gọi đánh giá giá trị của đòng sông Mẹ, cũng là giá trị các dòng sông ở Việt Nam.
Nhiéu tinh, huyện và dịa danh khác lây tên sông lâm tên gọi của mình. Tổng lượng nước mặt bình quân nhiều năm của Việt Nam là 835 tỷ kmỶ trong đỏ khoâng 313 tỷ km” sản sinh trên lãnh thổ Viết Nam, cén lại là từ nước khác chây vào, Ở nước ta, theo các số liệu tính toán dự bảo, tổng nhu câu đảng nước vảo năm 2010 là 122 tỷ m”, trong đó nhu cầu cho hoạt động nông nghiện là 22 tỷ mỂ, cho thoại động công nghiệp là 17 tỷ mỸ, cho dịch vụ lá 11 tý mổ. Mặc dủ nước la ó nguồn tải nguyên nước khá phong phú nhưng khoảng 2⁄3 lại bắt nguồn từ ngoài lãnh thé quéc gia, mùa khổ lại kéo dai 6-7 tháng làm che nhiều vùng thiêu mước tram lrọng. Dưới áp lực của gia lăng đân số, nhụ cầu phát triển kính tế - xã hội đã MO DAU 1.
Tính cấp thiết của để tải Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Châu Á, do địa hình bị chĩa cất mạnh và khí lậu nhiệt dời giỏ mùa, mưa nhiều (trung bình khoảng 2600mn/năm) đã tạo nên mạng lưới sông ngòi, kênh rạch khá phát triển với số lượng 2360 cơn sông có chiều dai hon 10km, phân lớn thuộc loại vừa và nhỏ. Hâu hết các sông suối nói trên tập trung thành các hệ thống sông, trong đỏ có 11 hệ thống sông lớn là: lưu vực sông Hỗng, sông Thái Bình, sông Bằng Giang, sông Kỷ Cửng, sông Mã, sông Cả, sông Vũ Gia, sông Thu Bồn, sông Ba, sông Đông Nai, sông Cữm Long (MeKong). Trung bình cứ khoảng 15-20 km bở biển lại có một của sông. Sông MelKong ở miễn Nam, sêng Hồng ở miễn Bắc là những đỏng sảng vào loại lớn và đài ở Châu Á và trên thê giới Do đặc điểm dia hinh, bau hết các tính của Việt Nam đếu có các phần lãnh thổ nam trong hưu vực các hệ thống sông lớn, ví dụ hưu vực sông Hồng hao gồm phân lãnh thổ của 25 tỉnh thành phía Bắc, lưu vực sông MecKong gồm phần lãnh thổ của 17 tỉnh (12 tỉnh đồng bằng sông Cứu Long, 3 tỉnh Tây Nguyễn, Quảng Trị và Lai Châu), lưu vực sông Đồng Nai - Sai Gon gồm phân lãnh thẻ ủa 11 tĩnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.
Cuộc sống của dân tộc Việt Nam gắn liền với sông nước. Cải nôi của văn hoá sỏng llỗng, nghẻ lủa nước sông llỏng đã là những tên gọi đánh giá giá trị của đòng sông Mẹ, cũng là giá trị các dòng sông ở Việt Nam. Nhiéu tinh, huyện và dịa danh khác lây tên sông lâm tên gọi của mình. Tổng lượng nước mặt bình quân nhiều năm của Việt Nam là 835 tỷ kmỶ trong đỏ khoâng 313 tỷ km” sản sinh trên lãnh thổ Viết Nam, cén lại là từ nước khác chây vào, Ở nước ta, theo các số liệu tính toán dự bảo, tổng nhu câu đảng nước vảo năm 2010 là 122 tỷ m”, trong đó nhu cầu cho hoạt động nông nghiện là 22 tỷ mỂ, cho thoại động công nghiệp là 17 tỷ mỸ, cho dịch vụ lá 11 tý mổ.
Mặc dủ nước la ó nguồn tải nguyên nước khá phong phú nhưng khoảng 2⁄3 lại bắt nguồn từ ngoài lãnh thé quéc gia, mùa khổ lại kéo dai 6-7 tháng làm che nhiều vùng thiêu mước tram lrọng. Dưới áp lực của gia lăng đân số, nhụ cầu phát triển kính tế - xã hội đã MO DAU 1. Tính cấp thiết của để tải Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Châu Á, do địa hình bị chĩa cất mạnh và khí lậu nhiệt dời giỏ mùa, mưa nhiều (trung bình khoảng 2600mn/năm) đã tạo nên mạng lưới sông ngòi, kênh rạch khá phát triển với số lượng 2360 cơn sông có chiều dai hon 10km, phân lớn thuộc loại vừa và nhỏ. Hâu hết các sông suối nói trên tập trung thành các hệ thống sông, trong đỏ có 11 hệ thống sông lớn là: lưu vực sông Hỗng, sông Thái Bình, sông Bằng Giang, sông Kỷ Cửng, sông Mã, sông Cả, sông Vũ Gia, sông Thu Bồn, sông Ba, sông Đông Nai, sông Cữm Long (MeKong).
Trung bình cứ khoảng 15-20 km bở biển lại có một của sông. Sông MelKong ở miễn Nam, sêng Hồng ở miễn Bắc là những đỏng sảng vào loại lớn và đài ở Châu Á và trên thê giới Do đặc điểm dia hinh, bau hết các tính của Việt Nam đếu có các phần lãnh thổ nam trong hưu vực các hệ thống sông lớn, ví dụ hưu vực sông Hồng hao gồm phân lãnh thổ của 25 tỉnh thành phía Bắc, lưu vực sông MecKong gồm phần lãnh thổ của 17 tỉnh (12 tỉnh đồng bằng sông Cứu Long, 3 tỉnh Tây Nguyễn, Quảng Trị và Lai Châu), lưu vực sông Đồng Nai - Sai Gon gồm phân lãnh thẻ ủa 11 tĩnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Cuộc sống của dân tộc Việt Nam gắn liền với sông nước. Cải nôi của văn hoá sỏng llỗng, nghẻ lủa nước sông llỏng đã là những tên gọi đánh giá giá trị của đòng sông Mẹ, cũng là giá trị các dòng sông ở Việt Nam.
Nhiéu tinh, huyện và dịa danh khác lây tên sông lâm tên gọi của mình. Tổng lượng nước mặt bình quân nhiều năm của Việt Nam là 835 tỷ kmỶ trong đỏ khoâng 313 tỷ km” sản sinh trên lãnh thổ Viết Nam, cén lại là từ nước khác chây vào, Ở nước ta, theo các số liệu tính toán dự bảo, tổng nhu câu đảng nước vảo năm 2010 là 122 tỷ m”, trong đó nhu cầu cho hoạt động nông nghiện là 22 tỷ mỂ, cho thoại động công nghiệp là 17 tỷ mỸ, cho dịch vụ lá 11 tý mổ. Mặc dủ nước la ó nguồn tải nguyên nước khá phong phú nhưng khoảng 2⁄3 lại bắt nguồn từ ngoài lãnh thé quéc gia, mùa khổ lại kéo dai 6-7 tháng làm che nhiều vùng thiêu mước tram lrọng. Dưới áp lực của gia lăng đân số, nhụ cầu phát triển kính tế - xã hội đã Quản lý lưu vực sông là một vẫn dễ đã được thực hiện ở nhiều nước trên thể pidi trong mia cuỗi của thế kỹ 20 và phát triển rất mạnh trong vài thập ky gần đây nhằm đổi phó với những thách thức về sư khan hiểm nước, sự gia tắng tình trạng ô xhiểm vả suy thoái các nguôn tải nguyên và môi trường của cúc lưu vực sông.
Hiệu nay trên thê giới đã có hàng trăm các tố chúc quản lý lưu vực sống được thành lập dé quan ly t6ng hop va théng thal tai nguyén nud dat va tai nguyén hén quan khác trên lưu vực sông, tối đa hoá lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công, tbằng nhưng không lảm tốn hại đến tính bên vững của hệ thông môi trường trọng, yêu của lưu vực, duy lrì các điều kiện môi trường sông lâu bên cho con người. Tử trước tới nay, Việt Nam với lịch sử văn mình lúa nước lâu dời , quân lý lưu. vực sông vẫn dựa trên quan điểm bão vệ và khai thác nguồn tài ngưyên mước phục vụ cho nông nghiệp (tưới tiêu). Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hiện ray, vai của các hộ dùng nước khác ngoài nông nghiệp đã tăng lên đảng kê — (thuý điện, nuôi trồng thuỷ sản, công nghiệp, du lịch.), theo đó công tác quản lý các lưu vực sêng không côn dừng lại ở việc tính toán can bằng nước, dâm bảo dủ lượng nước cung cấp cho niông nghiệp má cỏn bao hàm cả các lĩnh vực khác như chât lượng nước, ngăn ngửa ô nhiễm nguễn nước, cấp nude va xa thai cho công nghiệp và sinh hoạt, kiểm soát các thiễn tai, sự cố do biến đổi tự nhiên, khí hậu, cảnh quan sinh thái.