CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Nhận thức về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội theo luật tố tụng hình sự 1. Một số thuật ngữ liên quan người bị buộc tội Khái niệm người bị buộc tội đã xuất hiện từ rất lâu, tuy nhiên việc luật hóa khái niệm này thì chỉ được thừa nhận chính thức trong BLTTHS 2015. Người bị 1 buộc tội bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
- Người bị bắt: Khái niệm người bị bắt hiện nay vẫn chưa được quy định cụ thể trong BLTTHS 2015. Trước đây, người bị bắt vẫn chưa được xem là một chủ thể của quyền bào chữa, tức là chưa phải là người bị buộc tội. Cho đến khi BLTTHS 2015 có hiệu lực và thi hành, người bị bắt đã được các nhà làm luật quy định họ là người bị buộc tội và họ cũng có quyền bào chữa. Thông qua các quy định về quyền và nghĩa vụ của người bị bắt, có thể hiểu người bị bắt bao gồm người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt do đang bị truy nã.
Người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang được quy định tại khoản 1 – Điều 111 – BLTTHS 2015 như sau: “Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền”. Qua quy định trên, chúng ta có thể hiểu người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang là người đang thực hiện hành vi hoặc vừa thực hiện xong hành vi mà BLHS xem đó là tội phạm và hành vi đó bị phát hiện (quả tang), bất kỳ người nào cũng có thể truy đuổi và phải ngay lập tức giải người bị bắt đến cơ quan hữu quan có thẩm quyền. Người bị bắt theo quyết định truy nã theo quy định tại khoản 1 – Điều 112 – BLTTHS 2015 được quy định như sau: “Đối với người đang bị truy nã thì bất kỳ 1 Điểm đ – khoản 1 – Điều 4 – BLTTHS 2015.
8 người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.” Qua đó có thể hiểu, người bị bắt theo quyết định truy nã là người đã bị cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định truy nã về một tội phạm mà họ đã thực hiện, có thể là bị can, bị cáo, người đã bị kết án … mà họ bỏ trốn hoặc không biết họ đang ở đâu; bất cứ ai cũng có quyền bắt họ và phải giao ngay đến cơ quan hữu quan có thẩm quyền. Người bị bắt theo các trường hợp nói trên đều có quyền và nghĩa vụ cụ thể theo quy định của pháp luật. Quyền và nghĩa vụ của họ được quy định tại Điều 58 – BLTTHS 2015.
- Người bị tạm giữ: Căn cứ theo Khoản 1 – Điều 59 – BLTTHS 2015 thì có thể hiểu khái niệm người bị tạm giữ như sau: “Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ.” Dựa vào quy định trên, ta có thể phân chia người bị tạm giữ thành hai nhóm như sau: Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú trước khi hành vi phạm tội bị phát hiện và khởi tố và đã có quyết định tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền. Mặc dù chưa có quyết định khởi tố về hình sự, nhưng trên thực tế, họ đã bị hạn chế một số quyền tự do nhất định và họ có nghĩa vụ phải khai báo hoặc trả lời câu hỏi của điều tra viên về hành vi có dấu hiệu tội phạm của mình. Có thể gọi đây là nhóm người bị tạm giữ nhưng chưa có quyết định khởi tố về hình sự. Người bị tạm giữ là bị can, bị cáo, người đã bị kết án, người đang chấp hành án, nếu bị bắt theo quyết định truy nã hoặc ra đầu thú và đã có quyết định tạm giữ 2 đối với họ.
Trong những trường hợp này, họ vẫn có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật TTHS đối với người bị tạm giữ. Có thể gọi đây là nhóm người bị tạm giữ đã có quyết định khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ quy định cụ thể tại khoản 2 và khoản 3 – Điều 59 BLTTHS năm 2015. 2 Đặng Văn Hùng (2012), Nguyên tắc bản đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can,bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr 5 – 6.
9 - Bị Can Căn cứ theo khoản 1 – Điều 60 – BLTTHS 2015 thì có thể hiểu: “Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự”. Như vậy, so với BLTTHS 2003, BLTTHS 2015 đã xác định bị can ngoài là thể nhân còn có thể là pháp nhân. Tư cách bị can sẽ tồn tại trong quá trình “điều tra, truy tố và một phần giai đoạn xét xử 3 sơ thẩm.” Tuy nhiên, do pháp nhân không phải là một con người thực thể, nên việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của một pháp nhân là bị can đươc thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật có pháp nhân đó. Tư cách của bị can chỉ chấm dứt khi Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự mà Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án.
Đây có thể xem là những trường hợp chấm dứt tư cách tố tụng là bị can của người bị buộc tội theo chiều hướng có lợi cho họ, quyền công dân của họ sẽ được phục hồi một cách đầy đủ. Còn trong trường hợp khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, tư cách của bị can sẽ chuyển hóa trở thành bị cáo, quyền và nghĩa vụ của bị can cũng chuyển hóa thành quyền và nghĩa vụ của bị cáo. Tuy nhiên, dù bị can có được chấm dứt tư cách bị can của họ theo chiều hướng có lợi hoặc chuyển hóa thành bị cáo khi có quyết định của Tòa án đưa vụ án ra xét xử, thì họ vẫn đang là người bị buộc tội, vẫn chưa được xem là người đã có tội. Chính vì họ chưa phải là người đã có tội (theo bản án của Tòa án đã có hiệu lực dành cho họ) nên họ vẫn có những quyền và nghĩa vụ nhất định mà các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng phải bảo đảm cho họ, đặc biệt là quyền bào chữa hoặc nhờ người bào chữa.
Quyền và nghĩa vụ cụ thể của bị can được quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 – Điều 60 – BLTTHS 2015. - Bị cáo Theo quy định tại khoản 1 – Điều 61 – BLTTHS 2015 thì chúng ta có thể hiểu: “Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử”. So với trước đây, tại Điều 50 – BLTTHS 2003 chỉ quy định bị cáo chỉ có thể là cá nhân, thì nay, với BLTTHS 2015, bị cáo còn có thể là pháp nhân. Việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đó.
Tư cách bị cáo sẽ tồn tại từ giai đoạn có quyết định của Tòa án đưa vụ án ra xét xử và kéo dài đến khi có bản án, quyết định 3 Đặng Văn Hùng (2012), tlđd (2), tr 6. 10 có hiệu lực của Tòa án. Ở giai đoạn này, thực chất, bị cáo cũng mang tính quy định về mặt luật hình thức (chuyển hóa từ bị can khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử cũa Tòa án), họ vẫn không phải là chủ thể của cấu thành tội phạm, do đó, họ vẫn có một số quyền và nghĩa vụ nhất định trước các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo được quy định cụ thể tại khoản 2 và khoản 3 – Điều 61 – BLTTHS 2015.
Khái niệm về quyền bào chữa của người bị buộc tội “Bào chữa” có thể hiểu là việc “Dùng lí lẽ và chứng cớ để bênh vực cho một đương sự nào đó thuộc một vụ án hình sự hay dân sự trước tòa án, hoặc cho việc 4 nào đó đang bị lên án”. Tuy nhiên, cách hiểu này vẫn còn mang tính mơ hồ, chưa cụ thể vấn đề. Bởi lẽ, nếu hiểu theo cách thông thường này, thì ngay cả trong tố tụng dân sự hoặc trong các vấn đề về phản biện xã hội vẫn tồn tại khái niệm bào chữa. Điều này là chưa phù hợp với thuật ngữ khoa học pháp lý của nước ta hiện nay.
Vì hiện nay, ở Việt Nam, khái niệm “bào chữa” chỉ tồn tại khi có sự buộc tội của cơ quan có thẩm quyền (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát Nhân dân, Tòa án), hay hiểu theo một nghĩa khác, “bào chữa” chỉ xuất hiện trong hoạt động tố tụng hình sự. Còn trong hoạt động tố tụng dân sự (hoặc ngay cả hoạt động tố tụng hành chính) thì khái niệm “Bào chữa” không tồn tại. Một khái niệm khác định nghĩa: “Quyền bào chữa của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo là tổng hợp tất cả các quyền pháp luật dành cho họ sử dụng để 5 chống lại sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.” Về mặt lý luận, khái niệm này đã khái quát được nội hàm của khái niệm quyền bào chữa; tuy nhiên, khái niệm này chưa chỉ ra được cụ thể hình thức thực hiện quyền bào chữa là như thế nào, vì người bị buộc tội ngoài quyền tự mình bào chữa thì họ còn có thể nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa cho mình.