MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ở Việt Nam ngành Lâm nghiệp đang phát triển rất nhanh chóng đồng nghĩa với sự nhanh chóng đó tài nguyên rừng ngày càng mất đi. Chúng ta cần giải quyết vấn đề vừa đáp ứng đƣợc sự phát triển của lâm nghiệp chế biến mà không làm ảnh hƣởng tới phát triển môi trƣờng rừng. Đặt ra câu hỏi tìm kiếm một loại cây trồng mới vừa phát triển nhanh đem lại hiệu quả kinh tế, có phẩm chất gỗ tốt đáp ứng đƣợc ngành công nghiệp đồ gia dụng cũng nhƣ bảo vệ đƣợc tài nguyên rừng.
Loài Xoan đào (Vỏ hôi, Mạy thoong) (Pygeum arboreum Endl) thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae) là loài cây bản địa đa tác dụng có giá trị kinh tế cao, sinh trƣởng nhanh. Ở Việt Nam, loài cây này đƣơ ̣c phân bố rộng, có thể gặp ở hầu hết các tỉnh miền Bắc đến miền Trung, thƣờng gặp trong rừng thứ sinh vùng Đông Bắc. Trong đó loài cây này phân bố nhiều ở huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên. Loài này mang nhiều ý nghĩa về sinh thái, giá trị thƣơng mại, giá trị sử dụng, giá trị văn hóa và cảnh quan.
Trong những năm gần đây Xoan đào bị khai thác nhiều dẫn đến phân bố tự nhiên bị thu hẹp nhanh chóng và một số cá thể của loài bị giảm sút nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân nhƣng nguyên nhân chủ yếu là do khai thác quá mức vì mục đính thƣơng mại. Vì vậy, loài này đang đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng. Cần phải có biện pháp kịp thời và nhân rộng loài Xoan đào. Xoan đào là một loài mang nhiều đặc điểm quan trọng cho khoa học và loài cây tiềm năng trong nghiên cứu lâm học.
Những nghiên cứu về loài Xoan đào ở nƣớc ta còn nhiều hạn chế, mới chỉ tập chung vào đặc điểm hình thái, nghiên cứu trong giai đoạn vƣờn ƣơm các nghiên cứu về lâm học chƣa có nhiều. Qua sự tham khảo các nghiên cứu trƣớc đây Xoan đào là một loài cây bản địa đa tác dụng, phát triển nhanh khả năng năng nhân giống và tái sinh 2 cao và đem lại lợi ích kinh tế. Vì vậy, việc nghiên cứu về đặc điểm lâm học là một bƣớc để góp phần nhỏ vào việc bảo tồn và phát triển loài cây này để phục vụ trồng rừng gỗ lớn ở một số tỉnh miền núi phía bắc. Chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm học cây Xoan đào (Pygeum arboreum Endl) tại xã Quy kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”, nhằm làm cơ sở khoa học để phát triển cây Xoan đào tại Xã Quy Kỳ.
Mục tiêu và yêu cầu đề tài - Xác định một số đặc điểm cấu trúc của loài Xoan đào tại xã Quy Kỳ. - Xác định một số đặc điểm tái sinh của loài Xoan đào. - Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển loài Xoan đào. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa khoa học Qua nghiên cứu thực tiễn đề tài giúp ta làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng lý thuyết đã học đƣợc trong nhà trƣờng và thực tiễn.
Củng cố kiến thức cơ sở cũng nhƣ chuyên ngành, sau này có điều kiện tốt hơn để phục vụ công tác phát triển ngành lâm nghiệp. Tạo điều kiện cho sinh viên đƣợc tiếp xúc, làm quen với thực tế công tác nghiên cứu khoa học. Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu khoa học về nghiên cứu chuyên sâu loài cây Xoan đào. Kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học để lựa chọn các giải pháp bảo tồn và phát triển loài Xoan đào - Ý nghĩa thực tiễn Biết đƣợc đặc điểm phân bố và đặc điểm sinh thái, đặc điểm cấu trúc, tình trạng và vai trò của loài Xoan đào tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa.
Từ đó đƣa ra các giải pháp phát triển và bảo tồn. 3 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Xoan đào (Vỏ hôi, Mạy thoong) (Pygeum arboreum Endl) thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae) là loài cây bản địa đa tác dụng có giá trị kinh tế cao, sinh trƣởng nhanh. Ở Việt Nam, loài cây này đƣơ ̣c phân bố rộng, có thể gặp ở hầu hết các tỉnh miền Bắc đến miền Trung, thƣờng gặp trong rừng thứ sinh vùng đông Bắc.
Gỗ có màu hồng nhạt, mềm dễ làm nhƣng không bền ở trời mƣa nắng, có thể đóng đồ dùng thông thƣờng hoặc làm trụ nhỏ. Hạt chứa nhiều dầu Tỷ lệ 40-50% có thể ép dầu để đốt. Cây sinh trƣởng tƣơng đối nhanh. Cây 10 tuổi đạt chiều cao trung bình 13.5 cm, đƣờng kính 12cm, sinh trƣởng tốt ở những nơi có nhiệt độ bình quân năm 200C, lƣợng mƣa năm trên 1500 mm.
Sống đƣợc ở các loại đất feralit màu vàng, vàng đỏ phát triển trên các loại đá mẹ phiến thạch, sa thạch (dẫn theo Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyền 2000) [4]. Xoan đào thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae), trong họ này có nghiên cứu của Đỗ Thị Ngọc Thủy (2012) [21], nghiên cứu thành phần hoá học của thân cây Mâm xôi (Rubus alceaefolius Poir) họ Rosaceae ở Yên Sơn - Tuyên Quang cho thấy đã thu thập đƣợc mẫu nghiên cứu cây Mâm xôi tại Tuyên Quang và xác định tên khoa học của nó là Rubus alceaefolius Poir. Kết quả phân tích định tính cây Rubus alceaefolius cho biết trong cây Mâm xôi có các lớp chất sterol, flavonoit, cumarin, glucosit trợ tim và saponin. Những nghiên cứu trên thế giới 2.
Những nghiên cứu về cấu trúc Việc nghiên cứu về cấu trúc rừng trên thế giới đã đƣợc tiến hành từ lâu nhằm xác định cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp lâm sinh tác động vào rừng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế. Khái niệm hệ sinh thái đƣợc làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng trên quan điểm sinh thái học. (1965) [3]; Plaudy J [16], đã biểu diễn cấu trúc rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến… Baur G. (1976) [1], đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học trong đó đã đi sâu vào nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mƣa nhiệt đới.
(1989) [33], căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loại cây trong suốt quá trình sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành nhóm cây ƣa sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng. Kết cấu của quần tụ lâm phần có ảnh hƣởng đến tái sinh rừng. Độ khép tán của quần tụ ảnh hƣởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của cây con. Trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần thụ, V.
Những nghiên cứu về tái sinh Tái sinh là một quá trình sinh học mang tích đặc thù và diễn ra liên tục của hệ sinh thái rừng. Sự suất hiện cây con và phát triển để thay thế tầng cây cao, là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng. Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh rừng tự nhiên rừng nhiệt đới đáng chú ý là công trình nghiên cứu của P. Richards (1952) [17], 5 Bernard Rollet (1974) tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: trong các ô có kích thƣớc nhỏ (1 m × 1 m; 1 m × 1,5 m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm, một số ít có phân bố Poisson.
Ở Châu Phi trên cơ sở các số liệu thu thập Taylor (1954), Barnard (1955) xác định số lƣợng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo. Ngƣợc lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu Á nhƣ Bava (1954), Budowki (1956), Atinot (1965) lại nhận định dƣới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lƣợng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dƣới tán rừng (dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên, 1995) [6].J (1956) [37], đã nêu hai đặc điểm tái sinh phổ biến: Tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và kiểu tái sinh của các loài cây ƣa sáng khi nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên nhiệt đới. Những nghiên cứu về loài Xoan đào Trên thế giới loài Prunus arborea xuất hiện ở nhiều nƣớc Đông Nam Á, trong đó xuất hiện nhiều ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Indonesia, Malaisia… Lịch sử tên cây: Cây có nhiều tên gọi bản địa Việt Nam: Xoan đào, Vỏ hôi, Mạy thoong, ở Indonesia và Malaisia: Kalana hoặc Akil. Nhà thực vật học Bulume và Endl là ngƣời đầu tiên giới thiệu Pygeum arboreum (Blume) Blume, (1855) non Endl (1840).
Nhà thực vật học Kalkman (1965), đã bổ sung nghiên cứu về loài Prunus arborea, loài cây này những nghiên cứu này đề cập đến mô tả và phân loại các loài nhóm loài. Có thể kể đến một số tên đồng nghĩa khoa học nhƣ: Digaster sumatranus Miq, 1861. Pygeum blumei Teijsm, Binn & KOEHNE, 1913. Pygeum parviflorum Teijsm & Binn, 1855.
Pygeum robustum (Koord & Valeton) KOEHNE, 1913. Pygeum 6 stipulaceum Vua, 1897. Pygeum sumatranum (Miq. Những nghiên cứu điển hình về loài có thể kể đến Ilerwht SnmOm (1999) [32], đã nghiên cứu về “A vegetatlon study of the Forest in Ruteng Nature Recreatlon Park, Flores Island, East Nusa Tenggara, Indonesia” Nghiên về thực vật rừng ở Ruteng Nature, Đảo Flores, Đông Nusa Tenggara, Indonesia.
Đã kết luận đƣợc nhóm có sau 5 loài phổ biến với giá trị tầm quan trọng cao: Acer niveum, Chionanthus ramiflorus, Platea excelsa, Planchonella nitida alLd Prunus arborea. Rajib Lochan Borah (2014) [35], bổ sung thêm các loài mới trong nhóm thực vật 2 lá mầm trong hệ thực vật ở Assam. Trong đó có đề cập đến Prunus arborea var. Flora of Thailand (1970-2002) [31], nghiên cứu cây rừng Herbarium, đã đề cập về thông tin hình thái đặc điểm sinh vật học của Pygeum arborea Endl.
Những nghiên cứu ở Việt Nam 2. Những nghiên cứu về cấu trúc Thái Văn Trừng (1978) [27], khi nghiên cứu kiểu rừng kín thƣờng xanh mƣa ẩm nhiệt đới ở nƣớc ta đã đƣa ra mô hình cấu trúc tầng vƣợt tán, tầng ƣu thế sinh thái, tầng dƣới tán, tầng cây bụi và tầng thảm tƣơi. Đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam, Thái Văn Trừng (2000, 2010) [27], dựa vào sự ghép nối của 2 hệ thống phân loại: Hệ thống phân loại đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực vật dựa trên yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn đã phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 nhóm kiểu thảm (gọi là 5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (gọi là 14 quần hệ).