Tài liệu: Luận văn nghiên cứu bệnh viêm ruột do parvovirus trên chó tại

Nghiên cứu bệnh viêm ruột do parvovirus ở chó tại đồng bằng sông Cửu Long. Phân tích triệu chứng, chẩn đoán và biện pháp phòng trị hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại học Cần Thơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

176
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Phương pháp nghiên cứu bệnh viêm ruột do parvovirus ở chó tại ĐBSCL

Phương pháp nghiên cứu bệnh viêm ruột do parvovirus trêи chó tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long gồm thu thập mẫu bệnh phẩm từ 380 chó, xác định tỷ lệ nhiễm thông qua test kit nhanh và phân tích gen bằng phương pháp giải mã trình tự VP2 để xác định genotype CPV-2 lưu hành. Nghiên cứu cũng so sánh các genotype này với dữ liệu ở ngân hàng gene (Genbank) và vaccine hiện có, từ đó đánh giá khả năng bảo hộ của vaccine. Các mẫu phân và huyết thanh được lấy từ chó có biểu hiện tiêu chảy, ói mửa, kết hợp với xét nghiệm ELISA và PCR, nhằm xác định chính xác sự hiện diện của virus. Các kỹ thuật này giúp hiểu rõ hơn về cơ chế lây nhiễm, đặc điểm di truyền của các genotype tại ĐBSCL, từ đó xây dựng chiến lược phòng chống phù hợp.

1.1. Thu thập mẫu bệnh phẩm và xác định tỷ lệ nhiễm CPV 2

Mẫu khảo sát lấy từ 380 chó từ 1 đến >6 tháng tuổi, kiểm tra bằng test kit nhanh Antigen Rapid CPV và xác định tỷ lệ nhiễm trung bình khoảng 32,37%. Các mẫu được lấy từ chó điều trị tại các phòng khám thú y của Cần Thơ, Đồng Tháp, Tiền Giang, Bến Tre nhằm đưa ra số liệu dịch tễ học chính xác khu vực ĐBSCL.

1.2. Phân tích gen và xác định genotype của CPV 2

Sử dụng kỹ thuật giải mã trình tự gene VP2, phân tích dựa theo phương pháp Sanger trên hệ thống ABI 3130, so sánh với các genotype trong ngân hàng gene và vaccine để xác định genotype CPV-2a, CPV-2c chiếm tỷ lệ lớn. Kết quả cho thấy genotype CPV-2c chiếm tới 98,75% lưu hành tại ĐBSCL, liên hệ gần gũi với các genotype từ Trung Quốc và Hàn Quốc.

II. Các kết quả đánh giá genotypes của virus CPV 2 trên chó tại ĐBSCL

Nghiên cứu xác định các loại genotype của parvovirus trêи chó thông qua phân tích chuỗi gene VP2, kết hợp phylogenetic phân tích giúp xác định mối liên hệ tiến hóa, nguồn gốc vùng miền của các genotype. Kết quả cho thấy genotypes phổ biến là CPV-2c, liên hệ gần với các dòng virus từ Trung Quốc, Hàn Quốc. Không phát hiện genotype CPV-2b, chỉ có 1,25% là CPV-2a. Đặc điểm này phù hợp với các báo cáo quốc tế về sự đa dạng sinh vật của virus tại khu vực Đông Nam Á, giúp cung cấp cơ sở dữ liệu di truyền học đặc thù cho ĐBSCL.

2.1. Phân tích mối liên hệ nguồn gốc các genotype tại ĐBSCL

Dựa trên cây phát sinh loài, các genotype CPV-2c có mối liên hệ gần với các strain từ Trung Quốc như YANJI-1 và KR611522. Genotype CPV-2a phân nhóm chung với các dòng từ Uruguay và Trung Quốc, xác định rõ nguồn gốc lây lan qua các dòng virus quốc tế.

2.2. Đặc điểm di truyền của các genotype từ khu vực nghiên cứu

Các genotype lưu hành có độ tương đồng cao về nucleotide và amino acid, đặc biệt các đột biến tại vị trí 426 của protein VP2. Các genotype này thể hiện đặc điểm mọc chung, phù hợp với dữ liệu quốc tế, cung cấp thông tin quan trọng về khả năng kháng nguyên của virus trong vaccine và khả năng kháng miễn dịch.

III. Đánh giá hiệu quả vaccine phòng bệnh viêm ruột do CPV 2 tại ĐBSCL

Nghiên cứu đánh giá khả năng bảo vệ của 3 loại vaccine đang sử dụng trên địa bàn qua đo hiệu giá kháng thể, theo dõi sau tiêm trong vòng 12 tháng. Kết quả cho thấy tỷ lệ bảo hộ đạt 100% với hiệu giá kháng thể trung bình là 224-227,5 HI titer. Vaccine có khả năng duy trì miễn dịch suốt 12 tháng, giúp chủ nuôi yên tâm kiểm soát dịch bệnh. Việc này hỗ trợ chiến lược phòng bệnh chủ động, giảm tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh viêm ruột do parvovirus trêи chó.

3.1. So sánh hiệu quả bảo hộ của các vaccine đang lưu hành

Các vaccine V1, V2, V3 đều đạt tỷ lệ bảo hộ 100%, hiệu giá kháng thể từ 224 đến 227.5. Các vaccine này đảm bảo hệ miễn dịch bảo vệ chủ động trong thời gian dài, phù hợp với lịch tiêm phòng tiêu chuẩn và có thể áp dụng rộng rãi trong phòng chống dịch tại ĐBSCL.

3.2. Đánh giá khả năng đáp ứng miễn dịch theo nhóm giống và tuổi

Chó con từ 6 tuần tuổi trở lên đều đáp ứng tốt sau tiêm phòng, kháng thể duy trì tối thiểu 12 tháng. Không có sự khác biệt rõ ràng về đáp ứng theo giới tính hay giống chó. Các yếu tố này giúp tối ưu quy trình tiêm phòng, đảm bảo phòng bệnh hiệu quả toàn khu vực.

IV. Ứng dụng của kết quả nghiên cứu trong phòng chống bệnh viêm ruột do CPV 2

Các nghiên cứu về genotype, tỷ lệ nhiễm, hiệu quả vaccine cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng biện pháp phòng bệnh phù hợp khu vực ĐBSCL. Công tác chủng ngừa vaccine định kỳ, nâng cao ý thức vệ sinh, kiểm soát dịch tễ, tăng cường giám sát diễn biến dịch bệnh là những thành phần quan trọng. Đồng thời, kết quả còn giúp ngành thú y Việt Nam hoàn thiện chiến lược vaccine phù hợp genotypes lưu hành tại địa phương, góp phần giảm thiểu tổn thất về kinh tế và cảm xúc trong nuôi chó thương phẩm và thú cưng.

4.1. Xây dựng chiến lược phòng bệnh dựa trên genotype virus địa phương

Dựa vào genotyping, các chương trình tiêm phòng phù hợp sẽ tập trung vào genotype CPV-2c, giúp tăng hiệu quả phòng chống, hạn chế lây nhiễm chéo và tăng cường miễn dịch cộng đồng trong cộng đồng chó nuôi.

4.2. Chính sách kiểm soát dịch bệnh và nâng cao ý thức chủ nuôi

Thông qua các kết quả nghiên cứu, ngành thú y có thể xây dựng các chương trình tuyên truyền, tập huấn về phòng bệnh, tiêm phòng đúng lịch, vệ sinh sạch sẽ và kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc vật nuôi, giảm thiểu các đợt bùng phát dịch lây lan rộng.

13/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của luận án Bệnh viêm ruột do Canine Parvovirus type 2 (CPV-2) gây ra trên chó là một bệnh truyền nhiễm cấp tính (Kelly, 1978; Appel et al., 1979; Hoelzer et al. CPV-2 được coi là mối đe dọa nhất đối với chó con từ sau cai sữa đến sáu tháng tuổi. Tuy nhiên, các đợt bùng phát bệnh viêm ruột và tử vong trên chó trưởng thành do CPV-2 gây ra cũng đã được ghi nhận (Decaro et al. Bệnh xảy ra trên tất cả các giống chó, ở mọi lứa tuổi và không phân biệt giới tính (Castro et al., 2007; Gombac et al.

Bệnh diễn tiến nhanh, làm chủ nuôi chó khó phát hiện sớm, khi phát hiện là chó đã bệnh nặng khó điều trị. Các triệu chứng chính của bệnh gồm sốt, nôn mửa, tiêu chảy phân lỏng có lẫn máu tươi với mùi tanh hôi khó chịu dẫn đến chó mất nhiều máu, nhiều nước và chất điện giải, rối loạn chuyển hoá, trụy tim mạch, hôn mê rồi chết (Sherding, 2000; Joshi et al., 2001; Ramprabhu et al., 2002; Miranda et al. Bệnh xuất hiện vào cuối thập niên 1970 và lan nhanh chóng trên toàn thế giới (Appel et al. Từ đó đến nay, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu để hiểu rõ genotype của CPV-2 gây bệnh viêm ruột trên chó giúp cho công tác phòng và trị bệnh được hữu hiệu.

CPV-2 là một loại virus nhỏ có khả năng đề kháng cực tốt (Houston et al., 1996), với 3 biến thể là genotype CPV-2a (Carman et al., 1984; McCanslish, 1998), CPV-2b (Ybanez et al., 1995; McCanslish, 1998) và genotype CPV-2c (Rance, 2000; Nandi et al. Trong 3 biến thể trên, genotype CPV- 2c có một mô hình kháng nguyên khá khác biệt (Cavalli et al. Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây cho thấy CPV-2b được xác định là genotype chính và CPV-2c chiếm tỷ lệ 12,5% đang lưu hành trên đàn chó tại Hồ Chí Minh và Hà Nội (Ikeda et al., 2000; Nakamura et al. Sau đó, có sự hoán chuyển tỷ lệ lưu hành giữa các genotype của CPV-2 trên quẩn thể chó nuôi tại thành phố Hồ Chí Minh, từ genotype chính là CPV-2b nay chuyển sang CPV-2c là genotype chính và phát hiện genotype mới là New CPV-2a chiếm tỷ lệ 6,67% (Dung Nguyen Van et al.

Đồng thời, các tác giả trên đã lập cây phát sinh loài các genotype của CPV-2 đang lưu hành và kết quả nghiên cứu là nguồn tài liệu, khoa học quý báu giúp ngành thú y kiểm soát bệnh viêm ruột do CPV-2 trên chó tại địa bàn nghiên cứu. 1 Theo Chi cục Chăn nuôi và Thú y thành phố Cần Thơ, Đồng Tháp Tiền Giang, và Bến Tre, tại thời điểm (12/2018), tại Đồng bằng sông Cửu Long, nhu cầu nuôi thú cưng của người dân ngày càng cao; trong đó chó là loài vật được người dân ưa chuộng nuôi làm thú cưng. Đối với người cao tuổi, người độc thân neo đơn, trẻ con,… thân thiện và xem thú cưng là bầu bạn mỗi ngày, thậm chí có khi còn xem thú cưng là một thành viên trong gia đình. Mặc dù tỷ lệ bệnh viêm ruột trên chó do CPV-2 là 43,3% (Dung Nguyen Van et al., 2017) và tỷ lệ điều trị khỏi triệu chứng bệnh là khá cao 86,3% (Lê Minh Thành, 2009).

Nhưng khi thú cưng bệnh, những ngày điều trị chưa khỏi hoặc không điều trị khỏi bệnh, sẽ là những ngày không tránh khỏi làm chủ nuôi lo lắng, sa sút tinh thần,. Tuy nhiên, hiện tại, chưa có nghiên cứu về căn bệnh do Pavovirus trong phạm vi rộng cấp khu vực như khu vực ĐBSCL. Do vậy, việc nghiên cứu căn bệnh này tại khu vực ĐBSCL là cần thiết giúp cho công tác phòng và can thiệp bệnh được chủ động hơn nhằm giảm thiệt hại về kinh tế và đặc biệt là hạn chế được tổn thất về tình cảm của con người đối với thú cưng. Xuất phát từ thực tế trên, nghiên cứu bệnh viêm ruột do Parvovirus trên chó tại một số tỉnh thành ĐBSCL được tiến hành.2 Mục tiêu nghiên cứu Giải trình tự, định genotype, lập cây phát sinh loài, xác định tỷ lệ nhiễm bệnh viêm ruột do CPV-2 trên chó, đánh giá độ tương đồng về đặc điểm di truyền học phân tử của genotype của CPV-2 gây bệnh với các genotype vaccine trên ngân hàng gene; đánh giá hiệu quả điều trị và khả năng bảo hộ của vaccine phòng bệnh do CPV-2, nhằm giúp cho ngành thú y có định hướng can thiệp khắc phục triệu chứng bệnh, sản xuất và sử dụng vaccine phòng, chống bệnh viêm ruột do CPV-2 trên đàn chó thuộc khu vực ĐBSCL đạt hữu hiệu.3 Ý nghĩa khoa học của luận án Kết quả nghiên cứu của luận án là nguồn tài liệu cơ bản đầu tiên ở Việt Nam về bệnh viêm ruột do CPV-2 trên chó ở phạm vi rộng tại một số tỉnh thành thuộc ĐBSCL.

Từ đó hỗ trợ tích cực cho các nhà thú y trong khu vực về công tác chế tạo vaccine phòng bệnh, chẩn đoán, tiên lượng, điều trị bệnh, đồng thời làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu sau.4 Những điểm mới của luận án Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống, trên phạm vi rộng, đối với bệnh viêm ruột do CPV-2 trên chó đang được nuôi rộng rãi ở một số tỉnh thành thuộc khu vực ĐBSCL. Từ đó, lập cây phát sinh loài, xác định tỷ lệ nhiễm bệnh viêm ruột do CPV-2 trên chó và sự lưu hành của các genotype của CPV-2 gây bệnh. Đánh giá độ tương đồng về đặc điểm di truyền học phân tử của genotype của CPV-2 thực địa với các genoype của CPV-2 trong vaccine trên ngân hàng gene và đánh giá khả năng bảo hộ của vaccine phòng bệnh do CPV-2 trên chó đang lưu hành tại một số tỉnh thành thuộc ĐBSCL. 3 Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước về việc nhiễm bệnh viêm ruột do CPV-2 trên chó 2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước Qua nghiên cứu về sự phân bố của bệnh, vào cuối những năm 1970, cho rằng đây là một bệnh truyền nhiễm mới xảy ra trên chó con đặc trưng bởi viêm dạ dày, ruột hoặc viêm cơ tim hoặc do cả hai đã xảy ra trên toàn thế giới (Appel et al.

Trong vòng 12 tháng, CPV-2 được xác định là tác nhân gây bệnh viêm ruột xuất huyết nặng ở chó (Kelly, 1978; Appel et al., 1979) và bệnh lây lan nhanh chóng trên toàn thế giới. Hầu hết cùng lúc, bệnh cũng được báo cáo bởi những tác giả khác nhau: ở Canada (Thompson et al., 1978; Gagnon et al., 1979), Úc (Kelly, 1978), Vương quốc Anh (Jefferies et al., 1979, McCandlish et al., 1979), New Zealand (Grumbrell, 1979) và Bỉ (Burtonboy et al. Những ổ dịch bùng phát này là bệnh mới, hoàn toàn không liên quan đến virus thoáng qua trên chó (minute virus of canines), được mô tả lần đầu tiên vào năm 1970, hình như virus thoáng qua này không gây bệnh trên chó (Binn et al., 1970) và được đặt tên là Canine Parvovirus type 1 (CPV-1). Qua nghiên cứu sự biến đổi kháng nguyên của CPV-2, năm 1979 và 1980 một vài quốc gia đã sử dụng phương pháp kháng thể đơn dòng, đã phát hiện và nhận biết một biến thể kháng nguyên của CPV-2.

Biến thể này được đặt tên là genotype Canine Parvovirus 2a (CPV-2a) (Carman et al. Vào giữa những năm 1980, virus đã tiếp tục chịu một thay đổi kháng nguyên nữa, và biến thể mới đã được xác định và gọi là genotype Canine Parvovirus 2b (CPV- 2b) (Ybanez et al. Nghiên cứu về sự hiện diện giữa genotype CPV-2a và CPV-2b, kết quả cho thấy tỷ lệ giữa hai genotype này ở các nước trên thế giới là không giống nhau (Truyen, 2000). CPV-2b là loại kháng nguyên chủ yếu ở Mỹ và Nam Phi (Parrish et al.,1991; Steinel et al., 1998), Thổ Nhĩ Kỳ (Yilmaz et al.

Trong khi CPV-2a phổ biến hơn so với CPV-2b ở Ý (Sagazio et al., 1998) và các nước châu Âu khác (Bounavoglia et al., 2001; Mochizuki et al., 2001; Martin et al. Sau đó phát hiện một biến thể kháng nguyên mới tên là CPV-2c đã được báo cáo gây bệnh trên chó ở châu Âu và Nam Á (Bounavoglia et al., 2001; Nakamura et al., 2004 và Decaro et al. Kháng nguyên mới này, hiện 4 đang cùng lưu hành cùng với các kháng nguyên CPV 2a và CPV 2b ở châu Âu và miền Nam Mỹ (Martella et al., 2004; Perez et al. Những đột biến của CPV-2 này trước đây được chỉ định là các đột biến tại vị trí amino acid 426 (Asp thành Glu-426) hiện đã được đặt tên là genotype Canine Parvovirus- 2c (CPV-2c).

CPV-2c cũng được phát hiện tại Việt Nam (Nakamura et al., 2004) và tính gây bệnh của nó cũng đã được nghiên cứu (Decaro et al. Bệnh này cũng phổ biến rộng rãi ở châu Á (Khadilkar et al. Ở Ấn Độ, lần đầu tiên được báo cáo tại Madras (Balu et al. Tuy nhiên, sau đó một năm nó mới được phân lập ở Ấn Độ bởi Ramadass et al.

Và kể từ đó một vài lần xuất hiện bệnh đã được báo cáo từ các vùng khác nhau của đất nước Ấn Độ do các biến thể khác nhau của CPV-2 là genotype CPV-2a, CPV-2b và CPV-2c. Bệnh xảy ra ở động vật được tiêm chủng và không tiêm chủng (Deepa et al., 2000; Biswas et al. Chinchkar et al., (2006) đã nghiên cứu dịch tễ học về nhiễm trùng CPV-2 trên chó ở Ấn Độ và thấy rằng các genotype phân lập là CPV-2a chiếm ưu thế hơn genotype CPV-2b ở miền Trung và Miền Nam Ấn Độ. Nandi et al.

(2007), đã nghiên cứu sự xuất hiện của CPV-2 gây nhiễm trùng ở chó và báo cáo rằng CPV-2b là các genotype chiếm ưu thế ở miền bắc Ấn Độ. Các nhà nghiên cứu các genotype của CPV-2 ở Ấn Độ và đã tiết lộ sự tiến hóa của đột biến CPV-2 không rõ ràng, với sự thay đổi (Asp-426 thành Glu) xảy ra tại vị trí amino acid 426 và được chỉ định là CPV-2c (Nandi et al. Các công bố gần đây cho thấy CPV-2a và CPV-2b lưu hành tại Trung Quốc (Zhijun Zhong et al., 2014), CPV-2b có mặt ở Hàn Quốc (Seon Ah Park et al., 2012) và CPV-2c có mặt ở Đài Loan (Chiang SY et al. Dung Nguyen Van et al.

(2017) đã nghiên cứu về đặc tính di truyền của các virus gây viêm ruột trên chó tại Việt Nam, trong đó có nghiên cứu về CPV-2 đã báo cáo CPV-2c là genotype chính gây bệnh viêm ruột trên đàn chó tại Việt Nam (thành phố Hồ Chí Minh) và phát hiện mới là genotype new CPV-2a. Nghiên cứu đặc tính di truyền học của Parvovirus type 2 (CPV-2 ) ở Maputo, Mozambique cho thấy trong 40 mẫu phân khảo sát có 9/40 mẫu phân dương tính với genotype CPV-2a và 17/40 mẫu phân dương tính với genotype CPV-2b và không tìm thấy sự hiện diện của CPV-2c.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ