Tài liệu Luật: Luận văn ngành luật pháp luật về các biện pháp bảo đảm

Nghiên cứu pháp luật về biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính qua thực tiễn áp dụng tại Ninh Thuận, phân tích hiệu quả và đề xuất giải pháp.

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2019

103
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh pháp luật về biện pháp bảo đảm xử phạt VPHC

Pháp luật về các biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính là một chế định quan trọng, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Các biện pháp này không chỉ đảm bảo quyết định xử phạt được thi hành nghiêm minh mà còn góp phần bảo đảm tính pháp chế xã hội chủ nghĩa. Hệ thống pháp luật, tiêu biểu là Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020, đã tạo ra một hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh. Mục đích chính của các biện pháp này là ngăn chặn hành vi vi phạm tiếp diễn, bảo toàn tang vật, phương tiện, và tạo cơ sở cho việc thi hành quyết định xử phạt. Thông qua việc áp dụng các biện pháp như tạm giữ tang vật, khám người, khám phương tiện, cơ quan chức năng có thể thu thập chứng cứ, xác minh tình tiết vụ việc một cách chính xác. Điều này không chỉ giúp việc xử phạt đúng người, đúng vi phạm mà còn bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong quá trình xử lý. Việc nghiên cứu cơ sở lý luận về xử phạt hành chính cho thấy sự cần thiết của các biện pháp này trong bối cảnh ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân và tổ chức còn hạn chế. Do đó, hiểu đúng và áp dụng đủ các biện pháp bảo đảm là yêu cầu cấp thiết đối với các cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt tại các địa phương như Ninh Thuận.

1.1. Phân tích cơ sở lý luận về xử phạt hành chính và BPBĐ

Cơ sở lý luận của biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính (BPBĐ) xuất phát từ bản chất của quản lý nhà nước. Xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) là một hình thức cưỡng chế nhà nước nhằm duy trì trật tự xã hội. Tuy nhiên, để quyết định xử phạt có hiệu lực thực tế, cần có các công cụ hỗ trợ. BPBĐ chính là công cụ đó. Khái niệm VPHC được định nghĩa trong Khoản 1, Điều 2 Luật XLVPHC 2012 là “hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm”. Để ngăn chặn và xử lý kịp thời, luật quy định các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính. Các biện pháp này bao gồm tạm giữ người theo thủ tục hành chính, tạm giữ tang vật phương tiện vi phạm, khám người, khám phương tiện vận tải và khám nơi cất giấu tang vật. Mỗi biện pháp đều có mục đích, đối tượng và trình tự áp dụng riêng, nhằm đảm bảo việc xử phạt diễn ra khách quan, đúng pháp luật, tránh lạm quyền và xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

1.2. Vai trò của các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý VPHC

Các biện pháp bảo đảm đóng vai trò không thể thiếu trong trình tự thủ tục xử phạt vi phạm hành chính. Vai trò thứ nhất là ngăn chặn ngay lập tức hành vi vi phạm, không để hậu quả xấu tiếp tục xảy ra. Ví dụ, việc tạm giữ phương tiện vi phạm giao thông giúp ngăn chặn người điều khiển tiếp tục gây nguy hiểm. Vai trò thứ hai là đảm bảo cho việc xử lý được tiến hành thuận lợi. Việc tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính giúp cơ quan chức năng có cơ sở để xác minh, giám định và ra quyết định xử phạt chính xác. Vai trò thứ ba, và quan trọng nhất, là bảo đảm thi hành quyết định xử phạt. Khi tang vật, phương tiện bị tạm giữ, đối tượng vi phạm có trách nhiệm hơn trong việc chấp hành nộp phạt để nhận lại tài sản. Điều này đặc biệt hiệu quả trong bối cảnh nhiều đối tượng cố tình chây ì, không chấp hành quyết định, gây khó khăn cho công tác cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt. Do đó, việc áp dụng đúng đắn các biện pháp này giúp nâng cao uy tín của cơ quan nhà nước và sự nghiêm minh của pháp luật.

II. Vạch trần vướng mắc khi áp dụng biện pháp bảo đảm ở Ninh Thuận

Mặc dù khung pháp lý đã có, thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận cho thấy nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn. Theo báo cáo của Công an tỉnh Ninh Thuận, tỷ lệ quyết định xử phạt chưa thi hành xong còn tồn đọng, trong đó nhiều trường hợp đã áp dụng biện pháp bảo đảm nhưng vẫn không xử lý dứt điểm được. Nguyên nhân chính xuất phát từ cả quy định pháp luật và ý thức của người vi phạm. Thực trạng pháp luật hiện hành còn một số bất cập về thẩm quyền, thủ tục tạm giữ, và đặc biệt là việc xử lý tang vật, phương tiện bị tạm giữ khi chủ thể vi phạm cố tình bỏ tài sản. Bên cạnh đó, điều kiện cơ sở vật chất, kho bãi tạm giữ tại Ninh Thuận chưa đáp ứng đủ tiêu chuẩn, dẫn đến tình trạng tài sản bị hư hỏng, xuống cấp, gây khiếu nại. Sự phối hợp giữa các cơ quan như Sở Tư pháp Ninh Thuận, công an, quản lý thị trường đôi khi chưa đồng bộ, dẫn đến việc quản lý đối tượng vi phạm và tang vật không chặt chẽ. Những vướng mắc này làm giảm hiệu quả của các biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính, ảnh hưởng đến trật tự quản lý nhà nước tại địa phương.

2.1. Phân tích thực trạng pháp luật và những bất cập phát sinh

Qua khảo sát thực tế tại Ninh Thuận, thực trạng pháp luật về BPBĐ bộc lộ nhiều kẽ hở. Thứ nhất, quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo đảm còn chưa thống nhất. Ví dụ, khoản 6 Điều 125 Luật XLVPHC 2012 cho phép người có thẩm quyền xử phạt được tạm giữ giấy tờ hoặc tang vật, phương tiện, nhưng lại không quy định rõ ràng như thẩm quyền tại Chương II, Phần thứ hai của Luật, gây ra sự lúng túng trong áp dụng. Thứ hai, quy định về nơi tạm giữ tang vật, phương tiện chưa sát với thực tế. Nhiều đơn vị cấp huyện, xã tại Ninh Thuận không có kho bãi đạt chuẩn, phải gửi nhờ hoặc thuê ngoài, làm tăng chi phí và rủi ro hư hỏng tài sản. Thứ ba, pháp luật chưa có cơ chế hữu hiệu để xử lý tang vật, phương tiện bị “bỏ rơi” sau khi chủ sở hữu không chấp hành quyết định xử phạt. Tình trạng này gây lãng phí tài sản xã hội và tồn đọng hồ sơ kéo dài, làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật.

2.2. Những khó khăn vướng mắc từ thực tiễn thi hành tại địa phương

Bên cạnh bất cập pháp lý, khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn tại Ninh Thuận là rất lớn. Ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân chưa cao, nhiều trường hợp sẵn sàng bỏ phương tiện có giá trị thấp để không phải nộp phạt số tiền lớn hơn. Năng lực của một số cán bộ thi hành công vụ còn hạn chế, chưa nắm vững trình tự thủ tục xử phạt vi phạm hành chính, dẫn đến sai sót trong việc lập biên bản, ra quyết định tạm giữ. Công tác phối hợp giữa các lực lượng chức năng còn rời rạc. Chẳng hạn, việc trao đổi thông tin giữa công an và sở giao thông vận tải về các giấy phép lái xe bị tạm giữ chưa thường xuyên, dẫn đến tình trạng người vi phạm báo mất để được cấp lại. Theo Báo cáo của Công an tỉnh Ninh Thuận, số trường hợp chưa chấp hành quyết định xử phạt lên tới 4.616 trường hợp, cho thấy hiệu quả thực thi pháp luật chưa đạt như kỳ vọng.

III. Phương pháp hoàn thiện pháp luật về biện pháp bảo đảm VPHC

Để khắc phục những bất cập hiện nay, việc đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cấp thiết. Trọng tâm của các giải pháp này là sửa đổi, bổ sung các quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cần quy định rõ ràng và thống nhất về thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, tránh các cách hiểu khác nhau gây khó khăn cho người thực thi. Đồng thời, cần xây dựng một quy trình xử lý tang vật, phương tiện bị tạm giữ một cách khoa học và hiệu quả, đặc biệt là đối với các trường hợp chủ sở hữu cố tình từ bỏ tài sản. Các quy định về điều kiện, tiêu chuẩn của nơi tạm giữ cũng cần được xem xét lại cho phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương. Hoàn thiện pháp luật không chỉ là sửa đổi câu chữ mà còn phải đảm bảo tính khả thi khi áp dụng vào thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu lực của các biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người dân.

3.1. Kiến nghị sửa đổi bổ sung quy định về thẩm quyền tạm giữ

Một trong những giải pháp hoàn thiện pháp luật hàng đầu là thống nhất quy định về thẩm quyền. Cần sửa đổi Điều 125 của Luật XLVPHC 2012 theo hướng quy định rõ: chỉ những người có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện mới có quyền ra quyết định tạm giữ. Điều này giúp loại bỏ sự không nhất quán giữa các quy định, hạn chế lạm quyền và đảm bảo tính chặt chẽ của quy trình. Đối với việc tạm giữ tang vật phương tiện vi phạm, cần quy định cụ thể hơn về các trường hợp được phép tạm giữ khi chỉ áp dụng hình thức phạt tiền, tránh việc áp dụng tùy tiện. Bên cạnh đó, cần bổ sung quy định về thẩm quyền cho các lực lượng mới được thành lập hoặc có sự thay đổi về chức năng, nhiệm vụ, đảm bảo mọi hoạt động xử phạt đều có cơ sở pháp lý vững chắc.

3.2. Hoàn thiện quy trình xử lý tang vật phương tiện bị tạm giữ

Quy trình xử lý tang vật, phương tiện bị tạm giữ hiện nay còn nhiều lúng túng. Kiến nghị nâng cao hiệu quả là cần xây dựng một quy trình xử lý tài sản vô chủ hoặc bị từ bỏ một cách rõ ràng. Cụ thể, sau một thời hạn nhất định kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực mà người vi phạm không đến chấp hành, cơ quan có thẩm quyền cần được phép tiến hành các thủ tục bán đấu giá tài sản. Số tiền thu được sau khi trừ đi chi phí xử phạt và chi phí bảo quản sẽ được nộp vào ngân sách nhà nước. Giải pháp này không chỉ giải quyết dứt điểm các vụ việc tồn đọng mà còn tránh lãng phí tài sản xã hội và giải phóng các kho bãi đang quá tải. Ngoài ra, cần hoàn thiện quy định về thu phí trông giữ phương tiện, đảm bảo tính hợp lý và minh bạch, khuyến khích người vi phạm sớm chấp hành quyết định xử phạt.

IV. Top 5 kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng tại Ninh Thuận

Bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi tại địa phương là yếu tố quyết định. Dựa trên thực tiễn áp dụng tại tỉnh Ninh Thuận, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Các kiến nghị nâng cao hiệu quả không chỉ tập trung vào cơ quan chức năng mà còn hướng đến việc nâng cao nhận thức của người dân và doanh nghiệp. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính là biện pháp nền tảng. Đồng thời, cần nâng cao năng lực chuyên môn, đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác xử lý vi phạm. Việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, theo dõi vi phạm cũng là một yêu cầu cấp bách. Sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan như Công an tỉnh Ninh Thuận, Quản lý thị trường, Sở Tư pháp Ninh Thuận sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, đảm bảo các biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính được thực thi một cách hiệu quả nhất.

4.1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật

Nâng cao ý thức pháp luật là giải pháp gốc rễ. Cần đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, từ các phương tiện thông tin đại chúng đến các buổi nói chuyện trực tiếp tại cộng đồng dân cư, trường học và doanh nghiệp. Nội dung tuyên truyền cần ngắn gọn, dễ hiểu, tập trung vào các hành vi vi phạm phổ biến và hậu quả pháp lý của việc không chấp hành quyết định xử phạt. Sở Tư pháp Ninh Thuận có thể đóng vai trò chủ trì, phối hợp với các đoàn thể để xây dựng các chương trình tuyên truyền chuyên đề, đặc biệt là cho các đối tượng kinh doanh, vận tải. Khi người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, họ sẽ tự giác chấp hành pháp luật, từ đó giảm bớt số vụ vi phạm và áp lực cho các cơ quan thực thi.

4.2. Tăng cường năng lực cán bộ và hiện đại hóa cơ sở vật chất

Con người là yếu tố trung tâm. Cần tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên cho cán bộ, công chức làm công tác xử phạt VPHC. Nội dung tập huấn phải cập nhật các quy định mới của Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020 và đi sâu vào kỹ năng xử lý các tình huống phức tạp trong thực tế. Song song đó, tỉnh Ninh Thuận cần ưu tiên bố trí ngân sách để đầu tư, nâng cấp kho bãi tạm giữ tang vật, phương tiện, đảm bảo các điều kiện về an toàn, phòng chống cháy nổ. Việc trang bị camera, cân tải trọng di động, và các thiết bị kỹ thuật khác sẽ giúp việc thu thập chứng cứ được khách quan, minh bạch, hạn chế tranh chấp, khiếu nại.

4.3. Xây dựng cơ sở dữ liệu xử lý vi phạm hành chính dùng chung

Ứng dụng công nghệ thông tin là xu thế tất yếu. Việc xây dựng một cơ sở dữ liệu điện tử về xử lý VPHC dùng chung cho các cơ quan chức năng của tỉnh là một giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực tiễn mang tính đột phá. Hệ thống này sẽ cập nhật thông tin về đối tượng vi phạm, hành vi, lịch sử vi phạm, tình trạng chấp hành quyết định xử phạt và thông tin về các giấy tờ, tang vật đang bị tạm giữ. Điều này giúp các cơ quan như Công an tỉnh Ninh Thuận, Sở Giao thông Vận tải, Cục Quản lý thị trường dễ dàng tra cứu, phối hợp và ngăn chặn các hành vi gian lận như xin cấp lại giấy tờ bị tạm giữ. Dữ liệu này cũng là cơ sở quan trọng để đánh giá thực trạng pháp luật và đề xuất các chính sách quản lý phù hợp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

13/10/2025
Luận văn ngành luật pháp luật về các biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính từ thực tiễn áp dụng tại tỉnh ninh thuận

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ SỰ CẦN THIẾT ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TRONG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH 1.1 Lý luận chung về biện pháp bảo đảm trong xử phạt vi phạm hành chính 1.1 Khái niệm, đặc điểm, dấu hiệu vi phạm hành chính 1.1 Khái niệm vi phạm hành chính VPHC là loại vi phạm phổ biến diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong đời sống xã hội (năm 2018 trên địa bàn Ninh Thuận đã xảy ra 18.560 vụ vi phạm hành chính7) và liên tục thay đổi theo sự phát triển theo điều kiện kinh tế - xã hội, do đó cần làm rõ khái niệm VPHC, để làm cơ sở tiến hành, áp dụng các biện pháp xử lý và phục vụ nghiên cứu luật pháp. Theo quy định khoản 1 Điều 2 Luật XLVPHC năm 2012 thì “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về QLNN mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”. Quy định của Luật XLVPHC xác định VPHC là hành vi “vi phạm quy định của pháp luật về QLNN” là chưa nói lên được chính xác khách thể của VPHC vì “QLNN” là một khái niệm rất rộng, bao gồm tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, mục đích của Nhà nước là quản lý xã hội do đó nếu hiểu VPHC là hành vi vi phạm pháp luật về QLNN dễ gây hiểu lầm tất cả các hành vi vi phạm đều là vi phạm hành chính. VPHC là hành vi “mà không phải là tội phạm” việc dùng phương pháp loại trừ không phải là tội phạm là VPHC; việc dùng khái niệm của ngành luật hình sự để giải thích cho ngành luật hành chính là chưa đầy đủ và chưa thể hiện được tính độc lập, tương đối của ngành luật hành chính vì trong thực tế giữa tội phạm và VPHC chỉ là ranh giới rất mong manh, nhiều trường hợp cùng hành vi nhưng lúc này là VPHC, lúc khác là vi phạm hình sự, tuy nhiên để phân biệt giữa tội phạm và VPHC, pháp luật có những 7 Công an tỉnh Ninh Thuận (2018), Báo cáo công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2018.

8 quy định cụ thể dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm, hậu quả tác hại do hành vi đó gây ra, có thể gây ra, công cụ phương tiện, thủ đoạn khi thực hiện hành vi vi phạm, ví dụ như “hành vi đánh bạc trái phép” quy định tại Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định XPVPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình, có giá trị dưới 5.000đ nếu trước đó chưa bị xử phạt hành chính thì là VPHC, nếu đã bị xử phạt vi phạm hành chính trong thời gian một năm mà tiếp tục vi phạm thì sẽ là tội phạm, nhưng cũng có những hành vi dù có vi phạm với tính chất, mức độ như thế nào thì cũng không bao giờ bị coi là tội phạm như “hành vi hoạt động kinh doanh không đúng địa điểm, trụ sở ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh” quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định XPVPHC trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ; hơn nữa việc xem VPHC “không phải là tội phạm” sẽ tạo suy nghĩ không quan trọng, không cần thiết do đó quá trình thu thập tài liệu, cũng cố hồ sơ vi phạm, tuân thủ trình tự, thủ tục của các cơ quan QLNN có thẩm quyền thường chủ quan, xem nhẹ. Liên quan khái niệm VPHC có nhiều tác giả đưa ra những khái niệm khác nhau, chẳng hạn như trong Luận án “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, Đinh Phan Quỳnh trên cơ sở phân tích, luận giải những khái niệm VPHC được thể hiện trong một số công trình khoa học, tác giả đồng tình với khái niệm VPHC được trình bày trong Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam do Nguyễn Cửu Việt chủ biên:“Vi phạm hành chính là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật, có lỗi (cố ý hoặc vô ý) do cá nhân có năng lực trách nhiệm hành vi hành chính hoặc tổ chức thực hiện, xâm phạm trật tự QLNN và xã hội, trật tự quản lý, sở hữu của Nhà nước, tổ chức và cá nhân, xâm phạm các quyền, tự 9 do và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân mà theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính”8. Theo Giáo trình Luật hành chính, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, qua phân tích các định nghĩa về VPHC trong các VBQPPL của quá trình hình thành, phát triển ngành luật hành chính từ Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989 đến Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 2002, tập thể tác giả đã thống nhất nhận định “tuy có sự khác nhau về các diễn đạt, các văn bản pháp luật nêu trên đều thống nhất với nhau về những dấu hiệu bản chất của loại vi phạm pháp luật này”9 và thống nhất với định nghĩa vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật XLVPHC năm 2012. Từ những cơ sở, phân tích trên có thể hiểu khái niệm VPHC như sau “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức có năng lực hành vi hành chính, thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý vi phạm các quan hệ xã hội được luật hành chính bảo vệ và theo quy định phải chịu trách nhiệm hành chính” 1.2 Đặc điểm hành vi vi phạm hành chính Từ khái niệm nêu tại mục 1.1 thì “vi phạm hành chính” có 04 đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, hành vi đó phải là hành động hoặc không hành động không đúng hoặc vi phạm các quy định của pháp luật, gồm có luật và các văn bản dưới luật như nghị định, thông tư…về QLNN, đây là dấu hiệu đặc trưng cơ bản để xác định VPHC, do đó không thể xác định người nào đó vi phạm hành chính khi đó mới chỉ là ý nghĩ của họ.

Thứ hai, hành vi VPHC là hành vi có lỗi dưới hình thức lỗi vô ý hoặc lỗi cố ý, tức là chủ thể thực hiện hành vi đó trong trạng thái có nhận thức đầy đủ và điều khiển hành vi của mình, do sơ suất hoặc thiếu thận trọng (vô ý), hoặc có mong muốn hậu quả xảy ra (cố ý). 8 Đinh Phan Quỳnh (2018), “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, luận án tiến sỹ, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (trang 33). 9 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật xử lý vi phạm hành chính, NXB CAND, Hà Nội (trang 337). 10 Thứ ba, hành vi đó phải do một cá nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) có năng lực trách nhiệm hành chính thực hiện, về cá nhân phải là người có khả năng điều khiển hành vi và đủ độ tuổi theo quy định của pháp luật; đối với tổ chức thì phải có tư cách pháp nhân.

Các cá nhân, tổ chức nước ngoài được coi là chủ thể vi phạm hành chính, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc ký kết có quy định khác. Thứ tư, hành vi vi phạm các quan hệ xã hội được pháp luật hành chính quy định, bảo vệ. Các quan hệ xã hội của pháp luật hành chính có phạm vi rất rộng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như: trật tự, an toàn xã hội; quản lý kinh tế; bảo vệ môi trường; vệ sinh an toàn thực phẩm…những quy định này được ghi nhận trong các VBQPPL do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.3 Các dấu hiệu vi phạm hành chính - Dấu hiệu khách quan của VPHC là hành vi, đây là dấu hiệu thể hiện ra bên ngoài và là dấu hiệu bắt buộc trong VPHC, hành vi đó phải vi phạm các quy định do pháp luật hành chính bảo vệ mà theo quy định phải bị xử lý, có thể bằng một trong các hình thức xử phạt hoặc bị áp dụng các biện pháp xử lý khác, do đó để xác định một chủ thể có VPHC hay không chúng ta phải chứng minh được hành vi của chủ thể đó là gì, vi phạm vào quy định nào, thuộc văn bản pháp luật nào và hành vi đó có bị xử lý hay không. Hiểu được chính xác, chi tiết hành vi VPHC sẽ tránh việc vận dụng pháp luật theo kiểu “suy đoán” hoặc “nhận định”.

Trong một số trường hợp hành vi VPHC phải được đặt trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định, như: không gian, thời gian, địa điểm thì mới được xem là hành vi VPHC, ví dụ: hành vi “Không niêm yết chủ đề, thời gian tiến hành hội chợ, triển lãm thương mại tại nơi tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại đó trước ngày khai mạc hội chợ, triển lãm thương mại”, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 50 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013, thì địa điểm phải là “nơi tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại” thời gian phải là “trước ngày khai mạc hội chợ, triển lãm thương mại”. Một yếu tố trong mặt khách quan của VPHC là hậu quả do hành vi đó gây ra và dĩ nhiên giữa hành vi VPHC và hậu quả có mối quan hệ nhân quả với nhau, trong VPHC 11 thì nhiều trường hợp chưa gây ra hậu quả và cũng không nhất thiết phải gây ra hậu quả, tuy nhiên trong nhiều trường hợp hành vi bị xem là VPHC chỉ khi gây ra những hậu quả nhất định và khi đó phải xem xét cụ thể mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả xảy ra, nếu giữa chúng có mối quan hệ nhân quả thì đó là hành vi VPHC và ngược lại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ